Lên đồng hay còn gọi là hầu đồng, hầu bóng, đồng bóng là một nghi thức trong hoạt động tín ngưỡng dân gian (dòng Saman giáo) của nhiều dân tộc, trong đó có tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Về bản chất, đây là nghi thức giao tiếp với thần linh thông qua các tín đồ Saman giáo (ông đồng, bà đồng). Người ta tin rằng các vị thần linh có thể nhập hồn vào thân xác các ông đồng, bà đồng nhằm phán truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho các con nhang, đệ tử. Khi thần linh nhập vào đồng thì lúc đó các ông đồng, bà đồng không còn là mình nữa mà là hiện thân của vị thần nhập vào họ.

Ở Việt Nam, lên đồng là nghi thức không thể thiếu trong các thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần, (Được gọi là Thanh Đồng)… Về hình thức, nghi thức lên đồng hầu về Hội Đồng Thánh Trần mang tính saman nặng hơn khi lên đồng hầu về Tứ Phủ bởi hầu về Hội Đồng Thánh Trần có các hành động trực tiếp lên thể xác Thanh Đồng (người ở ngoài nhìn đôi khi thấy sợ)như đi trên than hồng, xiên lình(dùng thanh sắt sắc nhọn đâm xuyên qua hai má và xuyên qua quả cau trong miệng thanh đồng), ăn lửa,lên đai (1 hình thức thắt cổ,có người được gọi là sát căn,có khi lên 3 đai)…

Người đứng giá hầu đồng gọi chung là Thanh Đồng ,Thanh Đồng là nam giới và được gọi là “cậu” ,nữ giới được gọi là “Cô hoặc Bà Đồng”. “Cậu” thường mặc bộ quần áo lụa, mặt tô son điểm phấn (tóc có thể để dài như con gái). Thường có hai hoặc bốn phụ đồng (được gọi là nhị trụ hoặc tứ trụ hầu dâng ) đi theo Thanh Đồng để chuẩn bị trang phục, lễ lạt…Trong một buổi lên đồng thì có rất nhiều “giá”. Mỗi lần thay giá, người ta lại phủ lên “cậu” một tấm khăn lụa đỏ, sau đó bỏ ra và lúc này Thanh Đồng đang ở một “giá” mới và phải thay bộ trang phục xống áo, khăn chầu, cờ quạt, đồ hầu dâng… sao cho tương xứng với “giá” này. Khi thì Thanh Đồng hóa thân thành một vị tướng, khi thì là một quan lớn uy nghiêm oai vệ, lúc lại hóa thân thành một cô gái đang tung tăng nhảy múa. Điệu múa của Thanh Đồng cũng được thay đổi theo đặc điểm của “giá”. “Giá” quan thường múa cờ, múa kiếm, long đao, kích; giá các chầu bà thì múa quạt, múa mồi, múa tay không; giá ông hoàng thì có múa khăn tấu, múa tay không,múa cờ ; giá các cô múa quạt, múa hoa, chèo đò, múa thêu thùa ,múa khăn lụa ,múa đàn , múa tay không; giá các cậu thường múa hèo, múa lân … Nghi lễ Thánh giáng phải theo thứ tự từ cao đến thấp từ Thánh Mẫu đến hàng Quan, Chầu, ông Hoàng, hàng Cô và Cậu. Số lượng giá trong một buổi lên đồng có khi lên tới 36 giá.
Một buổi lên đồng


Trong lúc Thanh Đồng đang hoá thân thì bốn phụ đồng ngồi quỳ chân ở dưới cũng nghiêng ngả và múa may hưởng ứng Thanh Đồng theo nhịp câu hát.Những nắm tiền lẻ sau khi được Thanh Đồng tung ra, ban phát cho những người xung quanh được coi là tiền lộc và được những người dứng xem xung quanh nhặt lấy cất giữ để lấy may. Nhạc hát thông thường là điệu chầu văn hoặc là hát nói có nội dung ca ngợi sự linh thiêng của thần thánh và vẻ đẹp tiên giới. Nhạc khí chủ đạo là đàn nguyệt, bên cạnh nó là phách, cảnh, sênh, trống chầu, chuông, trống…Ở miền Bắc Việt Nam có Phủ Giầy là noi hay tổ chức lên đồng nhiều nhất.
Với các giá ông Hoàng thì nhóm đàn hát (được gọi là “Cung văn”) sẽ ngâm các bài thơ cổ. Lúc này, Thánh biểu hiện sự hài lòng bằng động tác thưởng tiền cho Cung văn và dùng những thứ người hầu đồng dâng như: rượu, thuốc lá, trầu nước…Tới giai đoạn cao trào của Thánh thì người đứng giá thường múa gươm hoặc bơi thuyền. Do vậy, ở Việt Nam có câu hát “cậu bắn súng lục, cô bơi thuyền rồng” là để chỉ sự này.
Một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng có nghi thức giao tiếp với thần linh như tín ngưỡng Mỡi của người Mường, tín ngưỡng Then của người Tày, Nùng. Tuy nhiên, khác với nghi thức lên đồng của người Việt, sự giao tiếp với thần linh ở Mỡi và Then chủ yếu thông qua hình thức xuất hồn, tức là các ông Mỡi, bà Then có khả năng thoát hồn khỏi xác bay đi gặp gỡ, cầu xin thần linh phù hộ cho dân chúng.
Ngày nay, lên đồng vẫn còn là nhu cầu tâm linh, là hình thức sinh hoạt tín ngưỡng dân gian của một bộ phận người Việt. Các nghi lễ này thường được tổ chức nhiều lần trong một năm vào các dịp lễ tiết, thường là tại các lễ hội đền thánh, phủ mẫu… Ngoài việc lên đồng để giao tiếp với thần linh, truyền thống tín ngưỡng Việt Nam còn tin tưởng rằng sau khi chết, linh hồn người chết vẫn còn và theo dõi cuộc sống của người thân đang sống. Do đó, khi lên đồng, linh hồn của người chết có thể nhập vào đồng cô, đồng cậu (người gọi đồng) để trò chuyện với thân nhân đang sống. Thông qua cuộc trò chuyện âm-dương này, người sống sẽ biết được những yêu cầu của người thân quá cố về mỗ mả để điều chỉnh và cúng xin cho phù hợp. Đồng thời, thông qua cuộc đối thoại này, người sống cũng biết được vận mạng tương lai của mình.
Tại Việt Nam hiện nay, hoạt động lên đồng bị chính quyền xem là hoạt động mê tín dị đoan do nhiều trường hợp việc lên đồng đã bị nhiều người lợi dụng vào mục đích xấu. Tuy nhiên, nhiều hội thảo khoa học nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian Việt Nam, trong đó có lên đồng đã được tổ chức, nhiều ấn phẩm của các học giả đã được xuất bản.




Các nhân vật chính trong buổi lễ lên đồng là các Thanh đồng hay còn gọi là “Đồng cô”, tuy hình thể là nam nhưng cử chỉ, điệu bộ ỏn ẻn, tâm hồn tính cách, trang phục, son phấn lại là của nữ giới. Họ không lập gia đình, đáng nói nhất là họ có thế giới nội tâm riêng, đa dạng, phong phú không giống người bình thường. Họ chỉ thích đàn ông, thích gọi bằng chị, họ sống thành từng nhóm, bao bọc nhau như một gia đình.


Điều mà khoa học không giải thích được là: Tiền họ kiếm được bằng nghề hầu dâng, hoặc buôn bán, được bao nhiêu lại dùng để từ thiện và đi hầu Thánh. Số tiền mỗi vấn hầu khoảng 300 - 500 triệu VND tương đương 25.000 USD, đây là vấn hầu lớn tiêu biểu, họ chuẩn bị rất kỹ lưỡng rất chuyên nghiệp, đội hát cung văn rất hay, làm say đắm lòng người. Chỉ riêng số tiền họ dùng để tung cho những người tham dự vào khoảng 200 VND - 300 triệu VND. Tiền hoa tươi trang trí điện thờ 15 triệu, đồ cúng lễ 50 triệu, túi quà biếu mang về tùy theo số lượng khách tham dự trên 100 triệu, tiền thuê đội hát cung văn, tiền thuê hai xe ô tô 45 chỗ trở khách, xe chuyên trở đồ lễ, tiền ăn, ở của khách cùng các chi phí khác,v.v.. tổng số tiền chi phí được quyên góp bởi anh em trong hội và khách tham dự. Có lần bà chủ Chả cá Lã Vọng nổi tiếng ở Hà nội ủng hộ 50 triệu.


Tôi có mời một Việt kiều về thăm đất nước, tham dự một buổi lễ lên đồng. Lúc đầu bà nói ở bên Hoa Kỳ nhìn thế này họ tưởng khùng, nhưng càng xem bà càng bị cuốn hút bởi thế giới tâm linh kỳ ảo, cùng với giai điệu hát văn làm mê hoặc lòng người, mà chỉ Văn hóa Việt nam mới có. Đây là Đạo thuần Việt, như Giáo Sư TS nghiên cứu hơn 20 năm về tín ngưỡng dân gian Việt nam (Ngô Đức Thịnh) Trong tín ngưỡng dân dã của người Việt và một số tộc người khác, tục thờ Nữ thần, thờ Mẫu và Mẫu Tam phủ – Tứ phủ (Đạo Mẫu) có vai trò và vị trí khá quan trọng, nó đáp ứng những nhu cầu và khát vọng của đời sống thường nhật của con người, do vậy, nó phổ biến khá rộng khắp, từ Bắc vào Nam, từ miền xuôi tới miền núi.
Từ Đạo Mẫu, ngoài những nghi lễ thờ cúng, nó còn sản sinh và tích hợp nhiều giá trị văn hóa – nghệ thuật, tạo nên một thứ “văn hóa Đạo Mẫu”, chứa đựng nhiều sắc thái văn hóa độc đáo của dân tộc.


Sau khi xem xong buổi lễ Hầu đồng bà nói: Anh có thể giúp tôi mời hội đồng cô sang lưu diễn tại Mỹ, để khi trở về Hoa kỳ, tôi sẽ xem xét nghiên cứu vận động bà con thành lập tổ chức quảng bá văn hóa tín ngưỡng dân gian Việt nam. Một loại hình văn hóa đặc sắc, độc nhất mà chỉ ở Việt nam mới có. Tôi nói với bà: tại Hoa kỳ phải có đền thờ Thánh Mẫu, vì đây không phải là văn hóa biểu diễn trên sân khấu. Biết đâu thông qua tổ chức phi lợi nhuận này, hình ảnh thương hiệu văn hóa Việt nam lại được Thế giới biết đến như là bản sắc Văn hóa đầy hứa hẹn mang tính đặc thù của dân tộc Việt nam!