Ngay từ khi tiến hành Đổi mới toàn diện đất nước đến nay (từ 1986 – 2009…), văn hoá lễ hội truyền thống đã được sự quan tâm của Nhà nước ta, cùng với sự đồng tình ủng hộ của nhân dân lao động, cả nước một lòng, nên văn hoá lễ hội truyền thống đã được phục hồi nhanh chóng, các di tích lịch sử – văn hoá được tôn tạo, sửa chữa, xây dựng, nâng cấp bằng nhiều nguồn kinh phí khác nhau, vì vậy chỉ trong một thời gian ngắn, có hàng nghìn ngôi đình đền, miếu điện, chùa chiền được Nhà nước xếp hạng và cấp bằng công nhận là: “Di tích lịch sử – văn hoá” cấp quốc gia.

     Đồng thời, hàng nghìn lễ hội truyền thống đã được phục hồi ở khắp nơi trong cả nước, và dần lấy lại được dáng vẻ cổ truyền như xưa với ba loại hình chính là: lễ hội đền (miếu, điện, phủ), lễ hội chùa và lễ hội đình làng. Việc phục hồi lại các nghi thức, nghi lễ và phong tục truyền thống trong lễ hội như: tế lễ, rước xách, trò diễn và trò chơi dân gian… là việc làm rất cần thiết, và không thể thiếu của mọi lễ hội dân gian truyền thống, đòi hỏi các nhà quản lí về văn hoá, lễ hội ở các địa phương phải hết sức thận trọng và cần được các nhà khoa học chuyên môn giúp sức ủng hộ, để việc chỉnh trang cho lễ hội ởcác địa phương vừa truyền thống, vừa hiện đại, lại vừa đại chúng, phù hợp vớithời đại lịch sử hiện nay.

Cần phát huy truyền thống văn hóa lễ hội của dân tộc

     Trên cơ sở đó, ngành văn hoá thông tin đã kịp thời có các văn bản hướng dẫn, quy định cụ thể việc bảo tồn và phát huy các giá trị của văn hoá lễ hội truyền thông phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội hiện đại, làm cho văn hoá, lễ hội nước ta vừa truyền thống, vừa hiện đại, nhưng vẫn mang đậm đà bản sắc văn hoá của dân tộc. Ngày nay, đến với lễ hội truyền thống không chỉ có người dân trong nước, mà có cả nhiều du khách nước ngoài, vì vậy phải biết tận dụng thế mạnh của lễ hội, và đưa ra nhiều dịch vụ thuận lợi, chất lượng cao để tạo dựng một nền công nghiệp “không khói” – Du lịch văn hoá, lễ hội truyền thống lên ngang tầm vớicác nước trong khu vực và trên thế giới.