Trên lãnh thổ nước ta, khảo cổ học đã phát hiện các di chỉ thuộc thời văn hoá hậu kỳ Đá cũ là văn hoá Ngườm (Thái Nguyên) đến van hoá Sơn Vi (Phú Thọ). Bước sang thời đại hậu kỳ Đá cũ, loài người đã có một bước tiến quan trọng về kỹ thuật sản xuất và sinh hoạt kinh tế, tổ chức xã hội và hình thái ý thức. Kỹ thuật đồ đá tốt hơn, công cụ lao động tinh xảo hơn nhờ sự trau chuốt, mài đá; xương thú rừng được sử dụng rộng rãi; con người đã tổ chức đi săn bắn tập thể các loài thú lớn như: trâu, bò, ngựa, voi, hổ, gấu… Sự phân công lao động tự nhiên đã xuất hiện giữa nam và nữ. Người đàn ông khởe mạnh chuyên lo việc săn bắt, còn người đàn bà chuyên lo việc hái lượm. Cuộc sống con người ngày một khá hơn trước, nên họ chuyển sang dạng sống định cư tương đối. Nhà ở kiểu hầm đất có vách đá xuất hiện, cùng với quần áo được làm bằng vỏ cây, hoặc da thú để che thân chống muỗi, vắt và mưa nắng, v.v…

Chế độ Mẫu hệ và ngôn ngữ được ra đời


     Trên lãnh thổ miền Bắc Việt Nam, các nhà khảo cổ học đã phát hiện nền văn hoá Hòa Bình (tỉnh Hòa Bình) thuộc vào thời đại Đá mới trước cách đây khoảng 10.000 năm. Khi ấy đã xuất hiện xã hội công xã Mẫu hệ. Do có công cụ bằng đá được chế tác tinh vi hơn, cùng với sự ra đời của cung tên, giúp cho nghề săn bắn muông thú rừng được phát triển mạnh; đồng thời nền sản xuất nông nghiệp sơ khai ra đời. Tiếp đến là thời kỳ văn hoá Bắc Sơn (Lạng Sơn) thuộc nền văn hoá Đá mới sơ kỳ cách đây từ 9000 – 8000 năm. Khi đó con người đã sống trong những điều kiện khí hậu và môi trường sinh thái động thực vật gần giống như của thời kỳ hiện đại. Công cụ sản xuất chủ yếu của thời kỳ này là đồ đá ghè và đá mài. về sau xuất hiện kỹ thuật khoan lỗ và cưa xẻ, cùng với công nghệ làm gốm và dệt vải. Trên cơ sở đó, con người khi ấy không chỉ biết hái lượm và săn bắt/bắn mà còn biết trồng trọt và chăn nuôi sơ khai. Khi trồng trọt và chăn nuôi ra đời đã đánh dấu một bước tiến mối quan trọng trong đời sống xã hội loài người. Con người đã bước đầu hiểu biết về tự nhiên, họ tìm cách sống hòa hợp với tự nhiên, để rồi lợi dụng tự nhiên phục vụ cho đời sống của mình. Tuy nhiên, con người sống trong xã hội thị tộc Mẫu hệ vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào tự nhiên. Vì thế mà con ngườicần phải sống tập thể và lao động sản xuất, sở hữu tập thể chung của thị tộc bộ lạc. Mọi người đều có quyền hưởng thụ và quan hệ bình đẳng. Nhờ có lao động tập thể mà hình thái ý thức đầu tiên của loài người là ngôn ngữ ra đời. Ngôn ngữ là một hệ thông tín hiệu làm phương tiện để giao tiếp trao đổi tư tưởng, để hiểu biết lẫn nhau. Dần dà trong tư duy của con người đã xuất hiện những khái niệm trừu tượng sơ giản, mang ý thức tư tưởng thời cộng sản nguyên thủy khá rõ nét.