Trực giác được đặt vào đúng chỗ của nó, một cách thực tế, không thần thoại hoá ...

§§§§§§§§§§§

Trực giác : cái « hiểu » trực tiếp 


Giác là hiểu, trực là thẳng, theo nghĩa trực tiếp, đi thẳng vào. 

Trực giác là « hiểu thẳng », hiểu trực tiếp, không cần qua trung gian suy luận. Trong tiếng Tây Phương, người ta dùng chữ Intuition, bao gồm IN là bên trong, và Tuition, đến từ Tueor là Thấy. Trực giác, Intuition, là cái thấy bên trong, khác với cái thấy bên ngoài, lệ thuộc các thông tin đến từ môi trường, kích động vào các « giác quan » (quan có nghĩa là « cửa », qua đó thông tin từ môi trường nhập vào nội tâm). 

Intuition, tức trực giác, theo nghĩa này, là thấy một cách trực tiếp những điều đã được lưu trữ trong nội tâm. Trực giác thường được coi như đến từ vô thức, nhưng một khi đã hiện lên, thì liền nằm trong ý thức, và có thể được sử dụng như đề tài suy luận, hay như đối tượng của mô tả, so sánh, cập nhật v.v… tức là được khái niệm hóa (chúng ta sẽ trở lại vấn đề này ở cuối bài).

Những lưu trữ bí mật  

Câu hỏi mà chúng ta không khỏi tự đặt ra, là những thông tin được lưu trữ trong nội tâm ấy đến từ đâu ? Ba nguồn gốc có thể được nêu lên : 

1) Những lưu trữ ấy là những kinh nghiệm, tức những thông tin và phản ứng đến từ môi trường, đã được cảm nhận trong quá khứ. Môi trường càng lập đi lập lại với cấu trúc ít thay đổi, thì trực giác càng chính xác. Đó là lý do khiến trực giác của một cầu thủ bóng đá, một tay chơi cờ tướng, hay một bà làm bếp, có nhiều hy vọng chính xác hơn trực giác của chính trị gia hay nhà kinh tế (1) ! 

2) Những lưu trữ ấy vẫn là những kinh nghiệm, tức những thông tin và phản ứng đến từ môi trường, nhưng được cảm nhận bởi những cá thể đã đi trước chúng ta trong quá trình tiến hóa trước khi được truyền đến chúng ta. Những cá thể này có thể là những tổ tiên thuộc về các cộng đồng người nguyên thủy, hay những loài vật nằm trước con người trong lịch sử tiến hóa (chúng ta biết là trong não bộ của mình có những vùng tương ứng với các loài vật đã đi trước con người trong lịch sử của thiên nhiên, như loài bò sát – reptilian complex …).

3) Những lưu trữ ấy đến từ Thiên Chúa, Brahma, Đại Ngã, Đại Hồn v.v… được lưu trữ trong vô thức, nơi một chân tâm hay bản ngã nào đó, và nổi lên ý thức nhờ những kỹ thuật tâm linh đặc biệt. 

Để cho đầy đủ, cũng cần nhắc đến quan điểm « mặc khải », qua đó Thiên Chúa (Brahma, Đại Ngã, Đại Hồn v.v…) trực tuyến gửi thông tin và phương án hành động đến một số người, trong những điều kiện ngoài tầm hiểu biết. 

Vấn đề « Trực Giác bản thể và siêu hình » 

Quan điểm vừa được nêu lên về trực giác đem chúng ta vào lãnh vực bản thể và siêu hình. 

Trước hết cần nhắc lại một khẳng định của Kant, cho rằng : không có trực giác về bản thể và siêu hình. Theo ông, những thứ ấy đều đến từ suy luận, vì những lý do sau : 

1) Giả sử những hình ảnh hiện lên trong tâm đến từ một cái gì hiện hữu trong thế giới, tức là từ thực tại, được lưu trữ trong ký ức, thì, theo định nghĩa, chúng không siêu hình. 

(Tuy nhiên, theo tôi, trực giác có thể liên quan đến "bản thể" của một số sự vật nào đó, nếu hiểu bản thể là cái không thay đổi trong các sự vật ấy. Ở điểm này, cần nói là tôi không đồng ý với Kant, khi ông cho rằng trực giác không áp dụng được cho bản thể)

2) Hoặc chúng đến từ một cái gì không hiện hữu trong thế giới, tức một « hiện hữu siêu hình ». Khi ấy phải tự hỏi phải chăng hình ảnh kia thực sự do Thiên Chúa "mặc khải", quỷ thần sui khiến hay đến từ suy luận, kiến thức, giáo hóa, niềm tin, tức từ những ý tưởng hay khái niệm sẵn có ? Nếu đến từ ý tưởng hay khái niệm sẵn có, thì, theo định nghĩa, không phải là trực giác ! Tức là trực giác « siêu hình », như Kant khẳng định, không có thật. 

Trong giả thuyết có ông nọ, ông kia, lên Himmalaya ngồi thở phì phò hồi lâu, bất thình lình từ trực giác thấy được Brahman, Thiên Chúa, tiền kiếp, các cõi trời, cõi tiên v.v…hiện lên trong tâm thức, thì, ngoại trừ sự kiện những cảm nhận được tuyên dương ấy không thể kiểm chứng, không chia sẻ được, còn có thể nhận xét là chúng không phải là điều mà chúng ta và tuyệt đại đa số con người cảm nhận (trừ vài người « psychotic »). Những tuyên dương ấy, vì thế, nằm ngoài thực tại, và không có ích lợi gì trong thực tế. 
 
Trực giác hiểu một cách thông thường và đơn giản

Nếu muốn đi đến một quan niệm có ích, thì cần quay về với những cảm nhận thông thường, phổ quát. Trực giác sẽ như mình đoán một chuyện gì đó. Thí dụ thấy vài người cầm biểu ngữ lộ ra ở đầu đường, thì lập tức "hiểu" có đoàn biểu tình đàng sau, nghe tiếng gâu gâu, biết ngay có con chó. Những cái « đoán » ấy đều có thể sai (thí dụ một người giả tiếng chó), nhưng điều quan trọng là chúng hiện lên một cách trực tiếp, không cần suy nghĩ, phân tích, vì đã được "tiên nghiệm". 

Biết sử dụng những « tiên nghiệm » tức những trực giác được chia sẻ bởi phần đông con người, hay bởi một cá nhân chính xác sau khi tìm hiểu người ấy, có thể giúp ích được trong nhiều trường hợp. Đó là những kỹ thuật « đối thoại với vô thức »,  được dùng trong tâm lý trị liệu, trong khoa sư phạm, các tiến trình đào tạo v.v…

Trực giác và phát minh, sáng tạo

Kant cho rằng : các ý tưởng không nội dung thực tế đều trống rỗng, và các trực giác (về thực tại) không (đưa đến) khái niệm đều mù tối. Chúng ta đã biết (xem ở trên) là các ý tưởng không có nội dung thực tế (linh hồn, Thiên Chúa, tình yêu …) tức các ý tưởng siêu hình, không thể là trực giác, mà đều đến từ suy luận (2). Còn các trực giác không đưa được đến khái niệm thì sẽ nằm trong tăm tối, không thể hiện lên như một thực tại, với khả năng đem lại một chương trình hành động thích nghi với thực tại ấy. Thì dụ đi dạo trong rừng, « linh cảm » thấy có kẻ theo rình rập, và ù té bỏ chạy (3).

Vì thế muốn cho trực giác trở thành sáng tạo, như nhiều người hay tưởng tượng, thì trực giác ấy phải trở thành khái niệm, có thể mô tả, so sánh, đưa vào hành động, va chạm với thực tế, sửa đổi, điều chỉnh, phủ định, tiến hóa.

Trong điều kiện ấy, trực giác trở thành một yếu tố cực kỳ quan trọng của sáng tạo, phát minh. Thật vậy, sáng tạo, phát minh có thể đến từ một quá trình « thử sai », cho đến khi một trực giác hiện lên và cho ra giải đáp.

Khi nghiên cứu vấn đề "thử - sai", các nhà Nhân Chủng học như Lévy Strauss cho rằng nếu chỉ dùng phương pháp ấy cho việc phát minh ra đồ gốm chẳng hạn, thì thời gian cần thiết để phát minh này xuất hiện phải bị nhân lên ít nhất là hàng trăm lần. Tức là có những phát hiện đột biến, nhảy bậc, không dựa trên xác suất của tiến trình "thử-sai".

Điều cần nhận xét là : Levy Strauss cho rằng ở bất cứ thời đại nào và bất cứ đâu, con số phát minh như thế luôn cố định ! Tuy nhiên, sự "thành công" của chúng tùy thuộc môi trường xã hội chung quanh có sẵn sàng tiếp thu chúng hay không.

Nói thế nghĩa là vấn đề này vượt xa sự "phát triển cá nhân" (được coi như lúc nào và ở đâu cũng thế) mà là một vấn đề cấu trúc xã hội. 

Bài đọc thêm (xin bấm vào tựa đề) :


Nguyễn Hoài Vân 

(1) Phải làm việc trong một môi trường bất định thay đổi quá nhanh 

(2) Chúng « trống rỗng » vì phải chờ một nội dung thực tế, khi có thể : thí dụ yêu ai, yêu cái gì v.v… 

(3) Không biết có thực có người rình mình hay không ? Giả sử có ai đó theo mình thì có thể đó là một người thân, không có gì nguy hiểm, trong khi phản ứng bỏ chạy có thể nguy hiểm.