... có nhu cầu đưa Vô Ngã về một lý lẽ đơn giản

§§§§§§§§§§§

Người ta thường nói và trích dẫn từ kinh sách rất nhiều điều đa dạng về Vô Ngã. Vì thế, có nhu cầu đưa Vô Ngã về một lý lẽ đơn giản. Đó là : cái Ngã, cũng như mọi sự vật (*), không phải không có, nhưng chúng không có tự tính, theo nghĩa chúng là sự kết hợp của vô số thành tố luôn chuyển biến theo quy luật vô thường. Mỗi thành tố ấy lại là sự kết hợp của vô số thành tố khác, các thành tố này cũng là sự kết hợp của vô số thành tố khác nữa, cứ như thế vô cùng tận. Một thành tố thay đổi thì sự vật không còn "là nó" nữa, mà là một cái gì khác. Tức là : vì các thành tố của nó không ngừng chuyển biến, nên ngã, hay sự vật, vừa thoáng "là nó" đã lập tức không còn "là nó" nữa, để biến thành một cái gì khác. Thuật ngữ Phật Giáo, cũng như Heraclite, ví điều ấy như một dòng sông. Chúng ta không thể thấy cùng một dòng sông ở hai giây phút. Vì nước trôi, nên giây phút sau, dòng sông đã biến đổi, không còn là cùng một dòng sông của giây phút trước nữa. Hermann Hesse đã lấy hình ảnh này làm chủ đề cho một tiểu thuyết với nhân vật chính mang tên là .... Siddharta !

Để hình dung việc một thành tố nhỏ có thể thay đổi hoàn toàn một con người, chúng ta có thể sử dụng hai thí dụ thực tế : 


Bác sĩ X, một người thông thái, tài hoa ... Nhưng chỉ cần nghẹt một mạch máu nhỏ, hư đi một phần bé tí trong não là ông ta không còn biết mình là ai, không còn nhận ra người quen, có khi không còn biết nói v.v... Khi ấy bảo "đây là bác sĩ X" thì chỉ là một sự hồi tưởng cái ông ấy "đã là".

Giáo sư Y, vì một lý do nào đó độ đường trong máu xuống đột ngột, khiến ông trở thành hung dữ đánh vợ (không sao), đập bể đồ đạc, TV (cái này thì nhất định là không được !), gọi cấp cứu, tiêm cho tí đường, liền trở lại bình thường.

Đâu là bác sĩ X, đâu là ông Y ? Phải chăng con người của các ông ấy, cá tính của họ, chỉ lệ thuộc vài grammes đường, vài tế bào não ?

Bây nói đến tái sinh và luân hồi. Nếu đã Vô Ngã thì cái gì tái sinh ? Bà La Môn bảo cái tiểu ngã phải được thanh lọc sao đó, kiếp này sang kiếp khác, để rốt cuộc hòa nhập được vào Đại Ngã (Đại Hồn), thì khi ấy không còn tái sinh nữa.

Phật Giáo chống lại quan điểm này. Đó là đặc thù của Phật Giáo, khiến Phật Giáo không phải là đứa con ghẻ của Ấn Giáo - Bà La Môn (Ấn Giáo coi Đức Phật là hóa thân thứ 9 của thần Vishnu). Đối với đạo Phật, không có tiểu ngã, đại ngã, phàm ngã, chân ngã, v.v... Chỉ Vô Ngã, vì những lý do đã nêu trên. Khi ấy, chỉ cần hiểu ra (giác ngộ) cái lý Vô Ngã, thì tái sinh, luân hồi, LẬP TỨC biến mất. Tức là tái sinh và luân hồi không thật, chỉ là ảo tưởng do cái tâm chấp ngã bày đặt ra. Thuật ngữ trong kinh bảo chúng như sợi dây, trong bóng tối mình tưởng là con rắn, nhưng bật đèn lên thì liền thấy là sợi dây, không phải con rắn. Không cần trải qua trăm ngàn kiếp mới hiểu được sợi dây không là con rắn, mà chỉ cần có chút ánh sáng là sự thật ấy liền trở nên hiển nhiên ngay lập tức.

Điều cần nhận xét là mỗi trường phái đều có những quan điểm của mình. Không phải nói theo Phật, theo Nam Tông, Bắc tông hay Bà La Môn-Ấn Giáo, là nhất thiết phải đúng hay là sai. Đó chỉ là tranh luận triết học, mỗi người bày tỏ những quan điểm, tìm cách biện minh cho chúng ... Nếu có thể thì nên ý thức rõ rệt là : mọi quan điểm đều sai, đều  không hoàn chỉnh.

Bất quá, có thể nói là quan điểm của Bà La Môn đòi hỏi một niềm tin không thể chứng minh được. Đó là tin vào sự hiện hữu của một Đại Hồn, nguồn gốc của sự vật, như trường phái Tân Platon vào đầu kỷ nguyên (xem bài về Plotin và trường phái này)

Quan điểm của Phật Giáo, ngược lại, đến từ thực nghiệm và lý luận, không cần một niềm tin nào đặc biệt. Thông thường người ta thiên về các quan điểm đòi hỏi ít niềm tin nhất (vì tin là một sự đầu hàng của trí tuệ).

Nguyễn Hoài Vân

20/3/2015