Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang nằm ở  xóm 14, xã Tràng Đà - Tuyên Quang, đền còn có tên khác như: Đền Thượng, đền Sâm Sơn, đền nằm dưới chân núi Dùm nên còn gọi là đền Núi Dùm, đền Mẫu Dùm....
Trước đền Mẫu Thượng là con sông Lô thơ mộng
        Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang cùng với Đền Hạ, đền Ỷ La tạo thành một cụm di tích thờ hai cô công chúa của vua Hùng là Phương Dung Công Chúa và Ngọc Lân Công Chúa tại thành phố Tuyên Quang.

        Sự tích về Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang

       Theo sách "Đại Nam nhất thống chí": Xưa có hai nàng công chúa con vua Hùng là Phương Dung và Ngọc Lân, một hôm theo xa giá đến bên bờ sông Lô (thuộc thôn Hiệp Thuận) đỗ thuyền. Nửa đêm trời mưa to, gió lớn, hai nàng đều hoá, nhân dân trong vùng lấy làm linh dị bèn lập đền thờ"… Nơi con thuyền dừng đỗ đã được bà con xây dựng thành đền Hạ. Sau này, có giặc giã, nhân dân đã mang tượng các công chúa sơ tán vào đất Ỷ La. Sau khi tan giặc giã, nhân dân khôi phục đền Hạ, đồng thời tại nơi sơ tán tượng công chúa được xây dựng thành đền Ỷ La. Còn đền Thượng ra đời sau khi có đền Hạ và đền Ỷ La. Đền Hạ được coi là đền gốc thờ chung của cả hai cô công chúa. Sau khi chia tách, đền Ỷ La thờ Phương Dung Công Chúa (cô chị) và đền Thượng thờ Ngọc Lân Công Chúa (cô em). Vì thế, ngày nay cả ba đền cùng chung lễ hội.

Một gian thờ trong đền Mẫu Thượng
       Theo các tài liệu, đền Hạ được xây dựng vào năm 1738, đền Ỷ La 1747 còn đền Thượng vào năm 1767 (có tài liệu cho rằng năm 1801). Hiện ngôi đền còn giữ được nhiều cổ vật: Một quả chuông đúc năm 1820, một chiếc khánh năm 1835, một số bức hoành phi năm 1866, 1943...
       Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang được coi là một đền thiêng và được các đời vua triều Lê,  triều Nguyễn sắc phong các mỹ tự. Hiện nay, nhà đền còn lưu giữ các đạo sắc phong vào các năm 1743, 1787, 1796, 1821, 1844,  1835, 1850, 1880, 1887, 1890, 1923 ứng với các đời vua Cảnh Hưng, Chiêu Thống, Cảnh Thịnh, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Thành Thái, Khải Định.

Cảnh Núi Dùm
        Đền Thượng còn được coi là một trong các đền thờ chính của Mẫu Thoải. Nơi đây còn lưu truyền một sự tích về Mẫu Thoải: 
          " Mẫu Đệ Tam vốn là con gái Vua Thủy Tề, ở chốn Long Cung.  Bà kết duyên cùng Kính Xuyên (là con Vua Đất). Khi Kính Xuyên đi vắng, bà ở nhà khâu vá, chẳng may kim đâm vào tay chảy máu, lấy tấm vải lụa trắng để thấm máu. Thảo Mai, tiểu thiếp của Kinh Xuyên, vốn đã sinh lòng đố kị từ lâu, nhân cơ hội đó giấu tấm lụa đi, đến khi Kính Xuyên về, Thảo Mai lấy ra rồi vu oan cho bà ở nhà đã cắt máu thề nguyền để tư thông cùng kẻ khác. Kính Xuyên không nghe lời thanh minh, ghen tuông mù quáng, một mực bắt đóng cũi bỏ bà lên rừng cho thú dữ ăn thịt. Ở nơi rừng núi, bà được muôn loài quý mến, dâng hoa quả nước uống cho bà. Đến một ngày kia thì bà gặp được Liễu Nghị, vốn là thư sinh quê đất Thanh Miện nhờ tập ấm cha mẹ để lại nên đèn sách chuyên cần. Hôm đó trên đường đi thi thì chẳng may bị lạc vào nơi bà bị đày ải. Thấy bà vậy, Liễu Nghị đến hỏi han, sau khi biết rõ sự tình, Liễu Nghị nhận giúp đỡ bà.  Bà đã viết thư nhờ Liễu Nghị mang về đến chốn Long Cung để vua cha thấu hêt sự tình rồi sẽ định liệu sau. Theo lời bà, Liễu Nghị ra đến sông Ngân Hán, là mái Long Giai ngoài biển Đông, thấy có cây ngô đồng, Liễu Nghị rút cây kim thoa, gõ vào cây ba lần. Tức thì gió giật mưa sa, biển động ầm ầm, giữa dòng thấy hiện lên đôi bạch xà, Liễu Nghị bèn trình bày mọi việc, đôi bạch xà vâng lệnh đưa Liễu Nghị xuống Thủy Cung. Tại đây, Liễu Nghị trao cho Vua Thủy Tề bức thư và kể hết mọi chuyện. Vua cha tức giận, sai người đi bắt Kính Xuyên và Thảo Mai, còn truyền cho Trưởng Tử Xích Lân lên đón bà về. Sau đó bà được rước về Thoải Phủ, kết duyên cùng Liễu Nghị, người được giao cho chức Quốc Tế Thủy Quan. ( Theo Bodetam.vn)"

       Đền Mẫu Thượng Tuyên Quang thờ ai

      Như vậy, thần tích về các công chúa con của vua Hùng và Mẫu Thoải có sự khác nhau. Tuy nhiên, các cô công chúa Phương Dung và Ngọc Lân đã được nhân dân phong là các vị Thánh Mẫu. Do đó có thể coi hai vị công chúa của vua Hùng là hiện thân của Mẫu Thoải. Vì vậy, chúng ta có thể coi đền Thượng là đền thờ Mẫu Thoải. Như vậy, với cái tên Đền Mẫu Thượng chỉ là tên gọi phân biệt với Đền Mẫu Hạ chứ không phải đền thờ Mẫu Thượng mà thờ Mẫu Thoải các bạn nhé.

Lễ hội Đền Mẫu Thượng 

        Lễ hội rước Mẫu của ba ngôi đền: Đền Hạ, Đền Ỷ La và Đền Thượng

        Lễ hội được tiến hành hai đợt vào tháng Hai và tháng Bẩy. Lễ rước Mẫu Đền Thượng, bắt nguồn từ truyền thuyết về các Thánh Mẫu vốn là công chúa du ngoạn sông Lô mà hiển hóa về trời. Đền Hạ thờ chung, Đền Ỷ La thờ chị và đền Thượng thờ em.  Hàng năm, họ gặp nhau hai lần và cùng cáo lên trời. Khi rước bài vị Mẫu từ đền Thượng và đền Ỷ La về đền Hạ vào ngày 12-2 là một sự gặp gỡ gia đình. Trước ngày lễ trọng, cả ba đền Thượng, Hạ, Ỷ La phải sắm lễ chay, lễ mặn và làm lễ mộc dục bài vị, kiệu (tắm sạch trước khi hành lễ), chuẩn bị kiệu rước (kiệu bát cống và kiệu võng); các đồ cờ, quạt, bát biểu; thủ từ chuẩn bị giá văn, bảng văn quán tẩy cho chủ tế.
      Tối ngày 11 tháng 2 khi mọi việc chuẩn bị chu tất, chủ tế xin âm dương để xin phép được rước Mẫu đi. Khi kiệu đền Thượng và đền Ỷ La gặp nhau ở cổng đền Hạ, hai bên cúi chào nhau, rồi cùng tiến vào đền. Chủ tế ở đền Hạ ra nghênh đón. Theo thứ tự kiệu bà chị (đền Ỷ La) vào trước rồi đến bà em (đền Thượng). Lễ hợp tế diễn ra trong đêm 12. Sau đó là các trò chơi dân gian: Cờ vua, đu quay, múa lân, sư tử, hát xướng, thả đèn trời. 

       Sự linh thiêng của Đền Mẫu Thượng

      Trong sử sách còn ghi lại: Trước cuộc đánh dẹp khởi nghĩa của Nùng Văn Vân, Tổng đốc Lê Văn Đức đã làm lễ cầu đảo ở đền Thượng và đền Hạ. Chính thế, sau khi dẹp loạn xong, nhà vua ban cấp sắc phong cho hai ngôi đền và dùng những mỹ từ cao quý nhất phong tặng cho các nương thần.


( Xin cảm ơn tác giá Phù Ninh và các bạn yêu thích đền Thượng đã giúp đỡ tài liệu để tôi viết bài viết này)