Mâu thuẫn trong kinh điển Phật Giáo là một quan tâm lâu đời. Trên phương diện sử học, không thể biết chính xác Đức Thích Ca đã nói những gì. Mọi kinh điển đều được ghi lại qua nhiều cuộc hội họp sau khi Ngài qua đời (6 lần, cho đến năm 1954 !), trong những điều kiện phần nhiều được kể lại bởi các phe phái ưu thắng, nhưng không dấu nổi những bất đồng, đối chọi. 

Vào thế kỷ thứ 6, nhà sư Trí Khải, người sáng lập Thiên Thai Tông, chấp nhận mâu thuẫn trong giáo pháp như những thích nghi với đối tượng và giai đoạn truyền giáo, để chia kinh điển thành 5 thời kỳ (ngũ thời thuyết pháp) : 

1) Thời Hoa Nghiêm : từ khi đắc đạo đến 3 tuần sau. Đối tượng là các thành phần ưu tú. Tiêu biểu là kinh Hoa Nghiêm. 

2) Thời A Hàm : trải dài 12 năm. Phật giảng các lý thuyết tương đối dễ hiểu như Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Thập Nhị Nhân Duyên ... 

3) Thời Phương Đẳng : 8 năm sau đó. Đối tượng một phần là những người đến tranh cãi, biện luận. Các kinh tiêu biểu là Duy Ma, Đại Tập, Tư Ích, Thắng Mạn ... 

4) Thời Bát Nhã : 22 năm sau. Phát triển thuyết Tính Không ... (kinh Kim Cương là một tóm tắt của triết lý này) 

5) Thời Pháp Hoa : 8 năm cuối đời, bao gồm kinh Pháp Hoa và kinh Niết Bàn được nói trước khi Phật từ trần. 

Sự phân chia này không thể coi là lịch sử. Thí dụ triết lý Bát Nhã được biết là được phát triển từ các luận sư từ Long Thọ (thế kỷ 2) đến Liên Hoa Giới (thế kỷ 8), tức từ khoảng 600 đến 1400 năm sau Đức Phật. 

Tựu chung chúng ta có thể nghĩ là những kinh điển được đặt gần Phật nhất trong thời gian, chính là những kinh điển có nhiều hy vọng phản ảnh tư tưởng thực sự của Ngài. Đó là giáo thuyết từng bị gọi là "tiểu thừa", nay gọi lại là "Nguyên Thủy", trùng hợp với thời A Hàm. 

Nguyễn Hoài Vân