Cái Tôi, Tính Thiện và sự Tu Tập





.... chìm đắm trong những suy tưởng trừu tượng, không thực, chính là đánh mất thực tại của cuộc sống

§§§§§§§§§§

Cái Tôi

Trong sự suy nghĩ về "Cái Tôi", nhiều người có khuynh hướng chọn một quan điểm thuộc loại "bản thể": tôi là "tất cả" (xem : là tình thương, là sự toàn thiện, toàn tri, là Phật, Chúa, v.v... Đó là quan điểm của nhiều tôn giáo. Đối với Phật Giáo, đặc biệt là Trung Quán, thì nó bị phủ định (Trung Quán có thói quen phủ định tất cả !).

Trở về sự cảm nhận thông thường thì :

Mọi động vật đều có cảm giác "cái ta", tức một hình ảnh chủ quan của thân thể mình. Nó cho ra cảm giác “chính mình”, “là mình”, “tự mình” (và mặc nhiên cảm nhận cái "không ta"), cùng với những gì “mình” có thể làm được, hay cảm thấy được. Đó là cảm giác « cái ta » như một sự vật.

Nhưng muốn có ý thức " cái tôi" như một con người, thì phải có ngôn ngữ. Mỗi người trong chúng ta đều cần đến ngôn ngữ để tự kể một câu chuyện về mình, được cập nhật đều đặn, đồng thời với một câu chuyện về mình mà mình muốn được người khác nhìn nhận. Tổng hợp các câu chuyện ấy là : « tôi ». Tôi "là" một người trí tuệ, can đảm, từ bi, đầy yêu thương ... hay trong trường hợp trầm cảm :  tôi hèn nhát, xấu xa, dốt nát, ác ôn, hoặc tôi "vừa vừa", làng nhàng trong mọi lãnh vực ... Với ngôn ngữ, ý thức « cái « tôi » không còn nằm trong sự vật mà bước lên phạm trù khái niệm, với khả năng trừu tượng hóa.

Vì mọi chuyện đều chuyển biến : là (chính) nó đồng thời không (còn) là nó, nên ý thức « cái tôi » như "sử tính" của một cá thể cũng chuyển biến như thế. Nó là cái quá khứ vừa không còn hiện hữu nữa, nhưng đồng thời lại vẫn hiện hữu vì không ngừng « lắng đọng » trong hiện tại. Mặt khác, ý thức « cái tôi » cũng hướng đến tương lai, qua dự phóng, để tuy chưa hiện hữu, nhưng đã bắt đầu hiện hữu trong dự phóng, với khả năng trừu tượng hóa, để vẽ lên một "thực tại" giả định cho tương lai.

§§§§§§§§§§§§§

Tu và Thiện
 
"Tu" nghĩa gốc là « sửa », trong bản chất là một dự phóng, hướng đến một phạm trù trừu tượng, được vẽ lên trong tương lai (tu thế này thế nọ, để thành cái gì đó, hay làm chi đó).
Tu có thể hướng đến sự Thiện mà không cần quan niệm một "bản thể" trừu tượng (Thiên tính, Phật tính, bản thể vũ trụ v.v...). Lý do vì tính thiện đã nằm sẵn trong cấu trúc di truyền của con người với tính cách "hành vi hợp tác" (chọn giúp đỡ, tử tế, nhân ái, với người khác) (xem :).

Tuy nhiên, con người cũng có thể trừu tượng hóa sự thiện, vẽ vời thành những lý tưởng cao đẹp, để biện minh cho một số hành vi, kể cả những hành vi độc ác..

Một nhà lãnh đạo đưa dân tộc mình vào một cuộc chiến tranh, với triệu triệu người thiệt mạng, vì đủ thứ lý tưởng được cho là cao đẹp, thì tự cho là mình làm việc "tốt", vì quốc gia dân tộc, đáng được tôn sùng suốt dòng lịch sử.

Một kẻ tu hành ép xác, hành hạ thân tâm đủ kiểu, cho là "pháp môn thượng thừa", đến nỗi đau yếu, bỏ mạng, cũng nghĩ là mình làm "tốt" (trường hợp đức Phật, trước khi giác ngộ « trung đạo ») ,,,

Vì thế các trường phái « trung đạo », như thiền tông, thường khởi đi từ những cảm thọ thông thường, cụ thể, như hít vào thấy nóng, thở ra thấy lạnh, chú tâm cảm thấy những điểm tựa của cơ thể lúc ngồi, nằm, các cảm giác khi cử động, ăn uống v.v... để tránh lao vào các khái niệm trừu tượng một cách bừa bãi.  

Thật vậy, ý thức tự nó rất dễ chạy lung tung từ khái niệm trừu tượng này sang khái niệm siêu hình khác, nhiều khi một cách tai hại, hết chân tâm, chân như, phật tính, đến bản lai diện mục, rồi đại ngã, v.v… tức bày ra đủ thứ « lông rùa sừng thỏ ». Điều này không những làm trở ngại việc tu tập, mà còn làm lãng phí cuộc sống. 

Vì chìm đắm trong những thứ trừu tượng không thực, thì chính là đánh mất thực tại của cuộc sống.

Nguyễn Hoài Vân
3-11-2012
Previous
Next Post »