"Ba cột trụ của hiểu biết" : xem ở cuối bài

Cũng cần đọc : 



§§§§§§§§§§ 

Vì sao chúng ta biết ? 

Một dòng suy tư từ Platon cho đến Descartes cho rằng lý trí suy ra sự hiểu biết. Như thế, sự hiểu biết có thể được truyền bá, trao đổi ... và có thể trở thành một vấn đề của cộng đồng.

Aristote và các nhà "thực nghiệm" Anh quốc sau này (Locke, Bacon, Hume, Berkeley ...) thì cho rằng không thể biết được bất cứ điều gì mà giác quan không từng cảm nghiệm thấy, tức là
« thức » phải thông qua "kiến" theo nghĩa rộng. Với quan điểm nay, tri thức trong căn bản là vấn đề của cá thể.

Hai trường phái này chống chọi nhau cho đến khi Kant dung hoà chúng
, như sau : đành rằng bạn chỉ biết được những gì bạn từng cảm nghiệm thấy, nhưng các sự cảm nghiệm không đến với tri thức của bạn như "nó là", mà phải thông qua những lọc lựa, biến hoá, của "lý trí" (Kant chưa biết đến tâm lý học miền sâu). (*)

Thế là sự tranh cãi chấm dứt. Hoà cả làng !
Cho ramột bài học : bí quyết để thành triết gia lớn chính là ... ba phải ! 

Làm sao biết mình biết ? 
Câu hỏi này có hai phần : 
1) Làm sao biết được chính mình như một hiện hữu có ý thức, tức là biết được cái « tôi » có khả năng « biết » ?

Sở dĩ ý thức của chúng ta ý thức được chính nó vì nó mang khả năng tự đối tượng hóa chính mình, thành một hiện hữu tự thân, biệt lập với nó. Như phóng một hình ảnh ra trước mặt, rồi hội nhập hình ảnh ấy vào hiện hữu của mình.

Sự hội nhập ấy được thực hiện như thế nào ? Có thể giải thích như sau : vì cái « ý thức tự thân hiện hữu » luôn chuyển biến, không thể gián đoạn, như một dòng chảy, nên cái hình ảnh « cũng là tôi » khi được đối tượng hóa như một hiện hữu riêng biệt, không ngừng bị triệt tiêu (2), đồng thời với sự triệt tiêu của cái chủ thể ý thức đã phóng nó ra trước mặt, để chỉ còn tổng hợp « tôi – ý thức » trong một phiên bản mới, vừa không còn là tôi, nhưng cũng vẫn là tôi (3).
Tiến trình này liên tục lập đi lập lại, như những hình ảnh nối tiếp nhau trong một cuốn phim, chính là ... sự sống !

2) Làm sao biết "cái mình biết" như một « nội dung hiểu biết » ?
Nêu lên vấn đề này rất lý thú, ví có những trường hợp người ta không biết mình biết. Thí dụ một người mắc chứng mau quên loại Korsakoff, được dạy cách sử dụng máy vi tính. Sau đó, người ta cho ông ta đi dạo 15 phút. Khi ông quay lại người ta hỏi : « ông có biết sử dụng máy vi tính không ? » Trả lới : « không ». Người ta liền để ông ngồi trước máy vi tính, đặt con chuột vào tay, để bàn phím trước mặt, và thấy ông khởi động rồi sử dụng máy tính một cách gần như bình thường. Tức là ông ta không biết mình biết, vì đã quên, không phải quên cách sử dụng máy vi tính, nhưng quên là mình biết sử dụng nó.
Như thế nghĩa là trả lời của câu hỏi thứ 2 này, với kiến thức của ngày hôm nay, nằm ở hoạt động của hệ thần kinh :
Não bộ ghi lại những « nội dung hiểu biết » ở nhiều vùng chuyên biệt. Một sự hiểu biết, như « sử dụng máy tính », bao gồm nhiều thông tin, được lưu trữ ở nhiều nơi  khác nhau, rồi, khi cần đến, thì có những vùng chuyên tổng hợp thông tin, đi tìm chúng để kết nối thành cái « nội dung  hiểu biết » mà chúng ta muốn gợi lên.
Nguyễn Hoài Vân
01-10-2013
(1) Ý tưởng này sẽ trở nên chính xác hơn với Husserl (và Trần Đức Thảo), qua "hiện tượng luận" – xem : Luận lý Hiện Tại Sinh Động 

(2) Vì nếu không thì dòng chảy gián đoạn, ngừng lại ở một hình ảnh 

(3) « Tôi » như một sự vật, vừa là nó, vừa không là nó, vì nó chuyển biến (theo Heraclite)

§§§§§§§§

Đọc thêm

Ba cột trụ của Hiểu Biết

Hiểu biết dựa trên ba cột trụ : 

1) cái mình nghĩ là thật (Lý Thuyết - Doxa)

2) Thực tế ( = kiểm chứng, thực nghiệm, quan sát - Episteme)

3) Lý luận (Logos)

- Có những người ngừng ở cái họ tin là thật (doxa). Đó là "giáo điều chủ nghĩa"

- Có những người thấy sao tin vậy, có khi còn lập thuyết với cái mình thấy, như Aristote với luật rơi, bị Galilée phản bác.

- Có những người chỉ lý luận, vận dụng khái niệm, chứng minh chúng v.v... và coi đó là sự thật, như Descartes, Anselme (với khái niệm Thiên Chúa) v.v... từng bị Kant bác bỏ (xem :


- Có khi người ta có một lý thuyết, được kiểm chứng bởi thực tế, nhưng lý luận vẫn chứng minh là nó sai, như (một lần nữa) luật rơi của Aristote, bị Galilée bác bỏ.

- Có khi người ta có một lý thuyết, lý luận bảo là đúng, nhưng chẳng tương ứng được với một cái gì trong thực tế cả, rồi rốt cuộc lại vẫn đúng, khi, nhiều năm sau, các phương tiện khảo sát cho phép tìm ra thực thể ấy, như boson Higgs, hay positron ...