« Vô Ngã » với Hume, Pascal, Montaigne, Bergson, Rimbaud, Sartre … và vài ý kiến cá nhân





"Vô ngã" trong truyền thống triết học Tây Phương, đại khái là không chấp nhận có một cái gì thường hữu, có tính cách "bản thể", thuộc về riêng mình, đàng sau những nhận thức, tri giác, suy tư v.v... Nó có một số ích lợi trong tâm lý trị liệu, hay trong đời sống thường ngày. Đơn giản nhất là đỡ mất công đi tìm "cái tôi", "tìm về với tôi", lo lắng cho "cái tôi" ấy trong đời này, rồi cả đời sau, tốn hao năng lượng, thời gian, lãng phí hiện tại. 

Chúng ta bắt đầu bằng một đoạn văn của Hume :

« (...) Khi đi xâu vào điều mà mình gọi là "cái tôi", thì tôi luôn gặp phải một tri giác nào đó : nóng lạnh, sáng tối, thương ghét, đau đớn hay lạc thú. Tôi không thể nắm bắt được "cái tôi", vào bất cứ lúc nào, một cách biệt lập với một nhận thức, và chỉ có thể nhìn ra nhận thức ấy. 

Khi tri giác của tôi tạm ngừng trong một thời gian nào đó, thí dụ trong một giấc ngủ ngon, lúc mà tôi không còn ý thức được "cái tôi", thì có thể nói rằng trong thời gian ấy tôi không hiện hữu.
Khi toàn bộ nhận thức của của tôi biến mất trong sự chết, khi tôi không còn có thể suy nghĩ, không còn nhìn thấy, hay cảm thấy bất cứ gì, và mọi yêu ghét cũng chấm dứt, khi ấy, khi cơ thể tôi tan rã, thì tôi sẽ hoàn toàn biến mất, và không làm sao có thể tìm ra được một phương cách nào hữu hiệu hơn thế, để biến tôi thành một người chết hoàn hảo. 
 
Nếu có ai, sau những suy tư nghiêm túc và khách quan, mà nghĩ được rằng mình có một hiểu biết khác về chính họ, thì tôi phải thú nhận rằng tôi không thể lý luận nhiều hơn với người ấy. Bất quá, tôi có thể chấp nhận rằng người ấy có thể có lý, cũng như tôi, và sự suy nghĩ của chúng tôi hoàn toàn cách biệt ở điểm này. Không chừng người ấy cảm nhận được một điều gì đơn giản và chắc chắn mà người ấy gọi là "cái tôi", nhưng điều tôi chắc chắn là tôi hoàn toàn không nhìn thấy
được nơi mình một bản chất tương tự ».

(Hume -
Traité de la nature humaine, livre I, 4ème partie, section VI)

Nhận xét : Quan điểm này được điều chỉnh bởi Kant với khái niệm "tiên nghiệm", và nhất là bởi phân tâm học với khái niệm vô thức : có những thứ bạn không cảm nhận được, nhưng vẫn thuộc về bạn, vẫn "là" bạn. Thật ra vấn đề chỉ tạm thời giải quyết với Husserl, Merleau Ponty (hiện tượng học)
tức là mãi đến gần đây.

Quan điểm của Hume có thể có ích trong tâm lý trị liệu. Thí dụ như giúp bệnh nhân ý thức họ không "là" cái hiện trạng bệnh lý của họ, hàm ý "nó sẽ thay đổi". Tiếng Anh phân biệt rất rõ, như : "You are not depressed, you have a depression". Tiếng Việt thì thay vì "cô trầm cảm", có thể nói : "cô hiện có cảm giác trầm cảm ? Từ bao giờ ?"
(gợi ý một khởi đầu để đồng thời gợi ý một kết thúc)
 
Nói chung, khi loại bớt được "bản ngã", khi nói được càng nhiều những câu như "tôi không là điều này, chuyện n ...", thì người ta sẽ thoải mái hơn rất nhiều.

Tiếp đến, mời đọc một đoạn văn của Pascal : 

« Một người ngồi bên cửa sổ nhìn kẻ qua lại. Giả sử tôi có đi ngang qua đó, thì có thể nào nói được là hắn đã ngồi đấy để được trông thấy tôi ? Không, người ấy không hề đặc biệt nghĩ đến tôi. 

Khi yêu mến vẻ đẹp của một người, thì có thực sự là mến yêu người ấy hay không ? Không, vì một cơn đậu mùa, giết đi vẻ đẹp mà không giết chết con người, sẽ làm cho tình cảm kia biến mất. Rồi nếu người ta yêu thích tôi vì trí tuệ của tôi, đó có thực là yêu thích tôi hay không ? Không, vì tôi có thể mất điều ấy trong khi chính mình vẫn còn hiện hữu. 
 
Vậy « cái tôi » ở đâu, khi nó không nằm trong thân xác hay tâm hồn ? Và làm sao có thể yêu mến thân xác hay tâm hồn ngoài những đặc tính của chúng, những thứ không thể làm nên
« Tôi », vì những thứ ấy đều hư hoại với thời gian ? 

Có thể nào yêu mến bản chất của một tâm hồn một cách trừu tượng mà không cần biết đến những đặc tính của nó ? Điều ấy không thể, và giả sử có thật, thì hoàn toàn vô nghĩa. Người ta không bao giờ yêu mến bất cứ ai, mà chỉ yêu mến nhưng đăc tính của người ấy. 
 
Vì thế, đừng diễu cợt những kẻ tự vinh danh vì chức quyền địa vị, vì mọi người đều chỉ được ngưỡng mộ do những đặc tính vay mượn của mình

(PASCAL, Pensées, fragment 323) 

Ghi chú : 

« Vì đó là người ấy, vì đó là tôi »(vmột người mình yêu) - Phát biểu này của Montaigne là một một phản bác đối với quan điểm vừa nêu của Pascal ("Người ta không bao giờ yêu mến bất cứ ai, mà chỉ yêu mến nhưng đăc tính của người ấy")

Trong điện ảnh, phim Benjamin Button kể chuyện  hai người yêu nhau thắm thiết, hoàn toàn chỉ vì "người ấy là người ấy", mà bất chấp mọi đặc tính ... 
 
Sang đến Montaigne quan niệm «vô ngã » chủ yếu dựa trên sự không thể nắm bắt được hiện hữu, vì nó luôn chuyển biến : 
 
« Tôi không mô tả một hiện hữu. Tôi mô tả một sự chuyển hóa : không phải chuyển hóa từ tuổi này sang tuổi khác, mỗi bảy năm, như dân gian quan niệm, mà từ ngày này sang ngày khác, giây phút này sang giây phút khác ... »
Montaigne - Essais - Livre III 

Trong chiều hướng suy tư này, Sartrecho rằng hiện hữu là một sự trở thành ... Không xa với Trần Đức Thảo trong Luận Lý Hiện Tại Sinh Động (xem http://triet-hoc-tam-linh.blogspot.fr/2015/11/luan-ly-hien-tai-sinh-dong.html?view=magazine

Một hệ luận thực tế  là :công kích hay hoan hô một cá nhân là vô nghĩa,  khi bạn làm việc ấy, đối tượng của bạn đã chuyển hóa thành một hiện hữu khác

Phủ định hiện hữu 

Thật ra, ý niệm « vô ngã » của Montaigne đi xa hơn trong đoạn văn vừa trích rất nhiều, dù  không thể nói thẳng ra trong bối cảnh kềm kẹp tư tưởng ở thời ông. Hiện hữu mà ông nói đến ở dưới đây là hiện hữu tuyệt đối, là bản chất của hiện hữu, là … Thiên Chúa ! 

Mời xem bình luận của Lévy Strauss : 

« Chúng ta hoàn toàn không có một tương thông nào với hiện hữu » (Montaigne - Essais II) : tất cả được tóm tắt trong xác quyết ấy (...) Và, tin chắc vào sự bất toàn này, chúng ta không còn biết được rằng cái kiến thức tự phủ định chính mình ấy, có thực sự là kiến thức hay không ?

Những người kế thừa Montaigne, như Descartes và Pascal chẳng hạn, đã đủ hãi hùng trước tư tưởng của ông, để tự gán cho họ cái sứ mạng, có lẽ
được coi như chủ yếu, phải khám phá ra những con đường để lẩn tránh tư tưởng này.
Claude Lévy Strauss - Histoire de Lynx 

Cái « Ngã » quay cuồng vô định 

Bergson thì nhìn « ngã » không phải như một tiến trình, một sự trở thành, như nói ở trên, mà như cát bụi quay cuồng vô định : 

« Như cát bụi quay cuồng trong cơn gió, con người nhào lộn quanh chính mình, lơ lửng trong luồng khí bao la của sự sống » 
 
(Bergson - Evolution créatrice - 128-9) 

Ngọn gió làm quay cuồng « cát bụi bản ngã » chính là thôi thúc trường tồn, như khái niệm « conatus » của Spinoza : « sự vật (…)đều phấn đấu để duy trì sự hiện hữu của nó »  
Spinoza - Ethique - Livre III - proposition 6

 
« Cái tôi » trong trào lưu lãng mạn, với Arthur Rimbaud : 

Thôi thúc trường tồn đưa đến tập trung vào "cái tôi". Đó lại chính là một đăc tính của trào lưu lãng mạn. Tuy nhiên, suốt ngày lải nhải về "cái tôi", như đám lãng mạn "hạ cấp", cũng nhàm chán và vô nghĩa như sự vô nghĩa của chính "cái tôi - cát bụi quay cuồng trong cơn gió ». 

Phải nói là một trong những đặc tính trào của lưu lãng mạn là niềm tin rằng tất cả đều ở trong mình, và chỉ cần "quay về mình" là có thể biết được toàn bộ nhân sinh.

Trào lưu ấy trở thành "hạ cấp"khi người ta không hiểu được cái ý nghĩa đích thực của "cái tôi".

Thật vậy, lãng mạn đúng nghĩa không phải là kể lể cà kê hôm nay tôi thế này, hôm qua tôi thế kia, hết thổn thức đến thê lương, thương thương ghét ghét, rồi "thức tỉnh" chuyện này chuyện khác, nghĩ suy trời nắng trời mưa v.v... 


"Cái tôi" đích thực chính là "kẻ khác", như Rimbaud gợi ý trong đoạn trích sau :

"(...) Tôi là kẻ khác. Nếu dàn đồng nổi lên tiếng kèn, thì đó không phải là tại nó. Đây là điều rõ rệt đối với tôi : tôi chứng kiến sự phát nở của tư tưởng mình, tôi quan sát, nghe ngóng nó, tôi kéo vĩ cầm, và sự giao hưởng của âm nhạc rung động trong thâm sâu, hay nhảy vọt lên sân khấu. 


Nếu bọn ngu dốt không chỉ nhìn thấy cái ý nghĩa sai lầm của Bản Ngã, thì chúng ta đã không phải tốn công quét dọn hàng triệu bộ xương khô đã từ rất lâu tích lũy những sản phẩm của trí tuệ đui chột của chúng nó, đồng thời hò reo hãnh diện là tác giả của những thứ ấy (...)"
(Rimbaud - Lettre du Voyant)

Thái độ lãng mạn được mô tả ở đây là mở tâm hồn cho mọi việc nhân sinh rót vào trong đó. Cái tôi là tấm gương phản chiếu thân phận con người, là nhạc khí sẵn sàng cho cuộc sống gửi vào những tiếng nhạc, là sân khấu đón nhận những bi hài kịch của trần gian ... 


Nếu tập trung vào "cái tôi" hạn hẹp, thì, theo Rimbaud, sẽ chỉ để lại những thây ma hư thối, những bộ xương khô mà hậu thế phải tốn công dọn dẹp. 


Ba « cái tôi » 

Quay vào nội tâm của mỗi người, đa số hành vi của con người có thể được hiểu qua lăng kính của ba "cái tôi" khác biệt : 

1) Cái tôi phi hữu

không còn hiện hữu trong hiện tại. Nó là cái tôi "đã là" hay "sẽ là".
Thí dụ : một ông bộ trưởng thời trước 75, chạy tỵ nạn qua Mỹ, thất nghiệp. Vợ dạy : « đi làm bồi bàn kiếm ăn ! ». Ông bảo : tôi đường đường là một bộ trưởng không lẽ lại làm bồi bàn ?
Thí dụ khác : một ông công chức làng nhàng thời nay không biết đấu hót sao đó, nghĩ mình sắp lên bộ trưởng. Vợ sai : « sách giỏ đi chợ ! » Ông bảo : ta đường đường là một bộ trưởng tương lai, không lẽ ... 

2) Cái tôi thường hữu : 
 
Là cái tôi bị quy định. Nó là cái nó là, không thể là gì khác. Như tảng đá là tảng đá, cây ổi là cây ổi, Đạt Lai Lạt Ma là Đạt Lai Lạt Ma. Có nhiều yếu tố quy định cái tôi ấy, như : di truyền, văn hóa, giáo dục, môi trường sinh sống, tương quan xã hội v.v... Thí dụ : Đạt Lai Lạt Ma (DLLM) lúc nào cũng mang một bộ mặt, một giọng nói, thậm chí nội dung những gì ông nói, chỉ nghe vài chữ đầu là biết ngay phần còn lại. DLLM không thể làm cho chúng ta ngạc nhiên. Y hệt như anh lính gác lăng cụ Hồ. Mọi cử chỉ động tác của anh ta, cách đi qua đi lại, nâng súng hạ súng, vung tay đá chân, v.v... đều đã được quy định từ trước. 

3) Cái tôi tự hữu : 
 
Không bị quy định. Nó « là cái nó không là và không là cái nó là ». Nó hiện hữu tự nó. Một ông bộ trưởng mặc quần xà lỏn áo thung ngồi nhậu ở quán cóc đầu đường chẳng hạn. Hay DLLM lên sân khấu nhảy rock, hát nhạc Mickael Jackson ... Tính Nhân Bản nằm ở cái tôi này : cục đá, con chó, cây ổi, không thể trở thành cái gì khác, con người thì có thể làm chuyện ấy. Vì thế, trong giao tiếp thường ngày, khi DLLM nói đùa một câu, người ta lập tức thấy ông dễ mến. Các kênh truyền thông rất ít nói đến những giảng giải đạo lý hoàn toàn máy móc của ông ta, mà rất thích phát lại những câu khôi hài ông ứng khẩu nói ra. Tương tự như vậy, khi một bác sĩ nói đùa vài câu với bệnh nhân, hay tán chuyện bóng đá, chính trị, tình duyên mấy cô ca sĩ ... thì ông ta thể hiện "cái tôi" này, tức khía cạnh nhân bản của một con người, không chỉ đóng vai  một ông bác sĩ, với những hành vi "bác sĩ" đã bị quy định sẵn. Bệnh nhân sẽ cảm thấy điều ấy, và sẽ trả lại cho ông ta mảnh tình người mà ông ta đã trao cho họ. 

« Cái tôi » như một sự trình diễn 

Nếu từ nội tâm nhìn ra ngoài, thì có thể nhận xét là « cái tôi » cần được cảm nhận bởi người khác, cần được mang ra trình diễn trên sân khấu của cuộc đời. 

Lý do vì : 

Một mặt, tôi không thể thấy được « cái tôi thường hữu » bị quy định bởi những yếu tố mà chính tôi không thể biết, nên tôi cần đến cái nhìn của người khác về tôi

Mặt khác, « cái tôi tự hữu » tuy là một câu chuyện được tôi kể cho chính tôi trước tiên, nhưng cần sự thừa nhận của người khác, rằng đó chính là câu chuyện « của tôi » (tôi là con người « như thế »). 

Thật ra, sự thừa nhận của người khác về tôi cũng chỉ là một ý tưởng chủ quan, vì không ai biết được nội tâm của người khác. Điều này cho thấy một sự « mù tối nhân đôi » : tôi không biết về tôi đã đành, mà cũng không biết điều người khác biết, hay nghĩ, về tôi ! Tức là trở lại phát biểu của Montaigne đã nói ở trên : « chúng ta hoàn toàn không có một tương thông nào với hiện hữu » … 

Dù sao, sự chờ đợi phản hồi về tôi, từ người khác, cho ra hai khuynh hướng : 

- Một là tự đồng hóa mình với một vai trò, một hình ảnh phổ quát trong xã hội. Người ta quan niệm xã hội như một sân khấu với các diễn viên được ấn định sẵn, và tìm cách chui vào một trong những sự trình diễn ấy. Một cách rộng rãi hơn, các vai trò này có thể hội nhập vào hệ thống giai cấp, thứ bậc, trong xã hội. Người ta tìm cách để được thừa nhận mình thuộc về một giai tầng, một thể loại nào đó, như thuộc giới « có học », « trí thức », tối ngày khoe sách vở, giới « có tiền », xu hào rủng rỉnh, trang phục, nhà, xe, đắt tiền, giới « giác ngộ tâm linh », phì phò thiền quán, bàn chuyện chân tâm, thường đạo, giới « giác ngộ chính trị », thường trực phẫn nộ, đấu tranh vung vít, v.v… 

- Khuynh hướng thứ hai là thái độ « bất cần đời », thích gì làm nấy, phô bày một lối sống, lối cư xử, bị coi là lố lăng, ngoài những quy ước xã hội, như muốn ném vào mặt người khác sự kém cỏi, hẹp hòi, phù phiếm, vô nghĩa, của họ. 

Cả hai khuynh hướng này, trong thực tế, đều đặt trọng tâm nơi « cái tôi », trong sự lệ thuộc vào nhãn quan của người khác. Chúng đều là sự phô bày chính mình, như « cái tôi không phải là tôi » (vì chỉ là một sự trưng bày), che dấu những căng thẳng, những ước mong và nuối tiếc, kể cả trong sự tìm kiếm « cái tôi » thực sự. 

Việc truy tìm « cái tôi » thực sự ấy, với những hy vọng và thất vọng của nó, nối dài trong thời gian, không là gì khác hơn chính … « cuộc sống » ! 

Nguyễn Hoài Vân
16/10/2016
Previous
Next Post »