Xin đề nghị một tiến trình dễ áp dụng :
Một trong nhiều hiệu năng của quán tưởng là giúp « giải trừ tạp niệm », loại bỏ những suy nghĩ lung tung, để tập trung tinh thần. Theo kinh nghiệm cá nhân, xin đề nghị một trình tự rất gọn gàng và hữu hiệu, được truyền dạy bởi nhà sư Trí Khải, đời nhà Tùy, bao gồm sáu giai đoạn, như sau : 

Đơn giản nhất là « đếm hơi thở » : gọi là sổ tức quán. Hít vào rồi thở ra : đếm một. Lại hít vào, thở ra, đếm hai, v.v… cho đến 10 thì quay lại một. Nếu lầm lẫn, không biết mình đã đếm đến đâu thì phải quay về một. Hơi thở phải tương đối dài, nhưng không được để thiếu hơi, sau đó phải thở dốc. Cùng lúc có thể áp dụng những cách thở mà bạn đã biết (đọc các số trước), tùy theo tác dụng muốn đạt được. Tuy nhiên, chủ trương của giai đoạn này là đơn giản, vì thế quý bạn nên chọn cách thở nào đơn giản nhất. 

Thứ đến, khi cảm thấy không còn cần phải đếm hơi thở để loại trừ những suy nghĩ tạp nhạp nữa, thì bạn có thể bước sang phương pháp « bám theo hơi thở » : gọi là « tùy tức ». Hơi thở vào, để tâm vào, hơi thở ra, chú ý theo ra, hơi thở sâu, biết nó sâu, hơi thở cạn, biết nó cạn, v.v… Tâm luôn bám theo hơi thở, như « chủ nợ bám theo con nợ » (lời Trí Khải), nhất định không rời. Pháp môn Vipasana (Minh Sát) của Phật Giáo Nguyên Thủy, khi dạy chú tâm đến tính lạnh của hơi thở vào và nóng của hơi thở ra, cũng không xa cách tập này. 

Khi không còn cảm thấy cần bám theo hơi thở nữa, người ta bước sang phép « chỉ », tức là đình chỉ cái tâm của mình lại, bắt nó ngừng ở một chỗ. Người ta tập trung nghĩ đến một điểm trong thân thể, thông thường nhất là vùng hạ đơn điền ở dưới rốn vài phân. Nhưng cũng có thể tập trung vào những nơi khác, như ngón chân cái, huyệt dũng tuyền ở gan bàn chân (tác dụng làm ngủ), huyệt trung uyển ở vùng vị, với tác dụng giúp tiêu hóa và hỗ trợ tuần hoàn (tỳ vị chủ vận hóa), vùng giữa trán, nơi huyết ấn đường (để khai tuệ ?), vùng đỉnh đầu nơi huyệt bách hội (xuất hồn ?), vùng gan, vùng thận ... Điểm tập trung cũng có thể nằm ngoài thân thể : như một ngọn đèn xanh nhỏ, đặt trước mặt vài thước được tin là giúp tăng cường thị giác (?), hay một điểm tưởng tượng trước mặt khoảng một thước, v.v… 

Sau đó, người ta chuyển sang pháp môn « Quán » đúng nghĩa, tức là hình dung, tưởng tượng một cái gì đó, như thực sự nhìn thấy hay cảm thấy nó. Thí dụ quán các đường kinh mạch vận chuyển : thường là vòng đại chu thiên, tiểu chu thiên, hay vòng tuần hoàn của 12 chính kinh, 6 kỳ kinh mạch … 

Vòng tiểu chu thiên khởi đi từ bụng dưới xuống xương cùng ra phía sau, theo xương sống lên đến đỉnh đầu rồi theo phía trước thân thể trở xuống trán, ngực, vùng vị, rồi lại bụng dưới. 

Người ta có thể tập tiểu chu thiên ngược : xuống phía sau, lên phía trước. Vòng TCT thuận đưa « khí » từ trong ra ngoài, vòng TCT nghịch đưa « khí » từ ngoài vào trong. Tùy tác dụng muốn có mà ta chọn vòng nghịch hay thuận. Thí dụ : ăn uống khó tiêu, cứ ợ lên … thì tập vòng thuận vì vòng này đưa xuống phía trước, qua vùng vị. Cảm thấy lạnh bên trong thì tập vòng nghịch vì có tác dụng đưa « khí » vào trong. Dương hư tập vòng nghịch, Âm hư tập vòng thuận. Có thể phối hợp TCT với cách thở có nín hơi (xem số trước). 

Người ta cũng có thể quán tưởng một câu thơ, câu kinh, thần chú, một bài quyền, một đạo bùa, một phong cảnh có thật hay tưởng tượng, hoặc hình ảnh Chúa, Phật, hình một vị Anh Hùng v.v…
Sau « Quán » là « Hoàn » : quay lại quán tưởng chính mình, như một người khác đang bình thản nhìn mình phì phò hít thở, quán này quán nọ, vất vả loay hoay cố thoát khỏi vọng tưởng, tham dục, đau khổ … Tác dụng của « hoàn » là ý thức được rằng cái tâm của mình là một tập hợp của nhiều thành phần, cái này đắp lên cái kia. Và cái phần thâm sâu có khả năng nhìn lại những phần khác một cách tĩnh lặng, có thể là Chân Tâm, Phật Tính. Pháp môn « Hoàn » là một cách để cảm thấy Phật Tính nơi mình. 

Giai đoạn cuối là « Tịnh ». Tâm hoàn toàn trống rỗng. Nó tự nhiên đến. Không thể tham cầu.
Trí Khải cho là có thể áp dụng nhiều giai đoạn của cái « Lục Diệu Pháp Môn » này cùng một lúc, như vừa sổ tức, vừa tùy tức, vừa chỉ, vừa quán v.v… Quý bạn thử xem ? 

Đừng quên hé một nụ cười ! 

Tiến trình vừa được trình bày thuận lợi cho việc an Tâm, đồng thời giữ cho thân thể được vững chắc, khỏe mạnh. Tuy nhiên, nếu chỉ ngừng lại ở sự thỏa mãn một số tham cầu của cái Tôi, một cách ích kỷ thì quay lưng lại với Thiền Đạo. Vì thế, đạt đến một cảm giác thư thái, khỏe mạnh, tâm hồn an tĩnh, phải là một cơ hội để phân phát những thứ ấy đến tha nhân, không những trong đời sống thường ngày, mà cả trong sự quán tưởng lúc đang tập luyện. Thật vậy, ngoài việc quán tưởng các đường kinh mạch, quán vòng tiểu chu thiên (thuận nghịch tùy nhu cầu), quán một hình ảnh, một đạo bùa, một ý tưởng (*) v.v... thì có một sự quán tưởng vô cùng quan trọng trong Thiền Đạo, đó là Quán Đại Từ Bi (Maha Karuna). Một truyền thuyết cho là Đức Phật đắc đạo nhờ Sổ Tức Quán (đếm hơi thở) và Quán Đại Từ Bi. Một cách nói để không cần đi tìm những "pháp môn" phức tạp, rắc rối. 

Quán Đại Từ Bi là : khi bạn cảm thấy tâm hồn thư thái, an tĩnh, trong lúc tập luyện, hay bất cứ lúc nào khác, thì liền dụng tâm phân phát cảm giác ấy, làm cho nó lan ra đến mọi người, mọi sự sống "hữu tình". Thật ra, không dễ gì làm được như thế ngay lập tức. Cần trải qua vài giai đoạn trung gian. Đầu tiên là chia sẻ sự an lạc với những người thân thương trong gia đình mình : vợ chồng con cái, anh chị em ... Ước vọng họ cũng được an lạc như mình. Rồi đến bạn bè, người quen, xóm giềng, đồng nghiệp ... Dần dần mới đến người mình chỉ biết mặt qua loa, không bao giờ trò chuyện, rồi tới người mình chỉ nghe nói đến. Sau chót là người mình thù ghét, oán hận, người đã từng cư xử tệ bạc với mình, bóc lột lường gạt, thậm chí hành hạ đánh đập mình. Vẫn với ước vọng chân thành là họ cũng chia sẻ sự an lạc của mình. Sau cùng là quán đến toàn thể chúng sinh ... 

Có một mánh lới đơn giản khi thực hành Quán Đại Từ Bi : bạn chỉ cần nỉm một nụ cười khi bất cứ một hình ảnh nào hiện đến trong tâm. Nó sẽ giúp cho năng lực và sự hiệu quả của bạn tăng lên gấp bội phần ! Điều ấy phải trở thành một phản xạ, trong mọi sự tập luyện. Dù cho bạn tập theo phương pháp nào đi chăng nữa, cũng đừng quên nó, đừng quên nỉm một nụ cười ! 

Nguyễn Hoài Vân