Văn hóa Việt Nam là sự tổng hòa các giá trị văn hóa của 54 dân tộc anh em. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử với truyền thống đòan kết, cộng đồng các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam chúng ta luôn gắn bó với nhau trong suốt quá trình đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ bờ cõi, giành tự do, độc lập và xây dựng, phát triển đất nước.
        Các dân tộc Tây Bắc nói chung và đồng bào dân tộc Thái sinh sống trên địa bàn nói riêng là những con dân Việt Nam cần cù chịu khó, gắn bó hoà đồng; là những con người vị tha, yêu thương và đùm bọc nhau trong cuộc sống. Đó cũng chính là những phẩm chất của người Việt Nam.

         Dân tộc Thái là một trong 54 dân tộc có mặt, sinh sống trên đất nước Việt Nam từ hơn 1000 năm trước trong các cuộc thiên di trong lịch sử. Người Thái ở Việt Nam có số dân đứng thứ 3 cả nước sau người Kinh và người Tày với số dân hơn 1,3 triệu người, chủ yếu sống ở vùng núi phía Tây Bắc và các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An… qua quá trình lao đông, sản xuất và sinh hoạt người Thái đã tạo nên được những nét văn hóa độc đáo và đặc sắc cho dân tộc mình, với những nét đặc sắc về bản sắc văn hóa kiến trúc nhà ở, trang phục thổ cẩm, văn hóa ẩm thực, phong tục tập quán riêng biệt, ngôn ngữ, chữ viết…đã làm nên một nền văn hóa cho dân tộc Việt Nam thêm phong phú và đa dạng.
        Là một người con dân tộc Thái sinh và và lớn lên trên mảnh đất Điện Biên anh hùng, tôi thật sự rất tự hào về chính nơi tôi được sinh ra, về bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của chính dân tộc mình.
        Trong khuôn khổ bài viết này, tôi sẽ chia sẻ đến các bạn về những gì tôi biết về phong tục, văn hóa, cách sinh hoạt…của đồng bào Thái sinh sống trên địa bàn Tây Bắc nói chung và Điện Biên nói riêng.
        Ở điểm cực Tây của tổ quốc, Điện Biên nằm ở nơi cao ráo, thoáng đãng, hội tụ sông, suối, núi đồi, những cánh đồng lúa và phảng phất đâu đây là mùi hương hoa cỏ dại từ những cánh rừng xanh bạt ngàn. Những ngôi nhà sàn thấp thoáng ven những bờ suối,còn ven bờ là những chùm hoa dại, hoa ngũ sắc và những chùm hoa bay bay theo gió. Cảnh sắc nơi đây thật sự rất tuyệt vời. Phải chăng không khí trong lành, dịu mát cùng với cảnh sắc tuyệt vời như vậy cũng làm cho con người nơi đây trở nên phúc hậu?

Một góc đèo Pha Đin trên địa phận tỉnh Điện Biên - Ảnh: Sưu tầm

Cánh đồng Mường Thanh - Ảnh: Sưu tầm

        Cộng đồng tộc người Thái ở nước ta bao gồm: Thái đen và Thái trắng. Tại Điện Biên có khoảng 186.270 đồng bào Thái đang sinh sống, chiếm 38,0% dân số toàn tỉnh và 12,0% tổng số người Thái tại Việt Nam.
        Đầu tiên tôi sẽ giới thiệu về ngôn ngữ và chữ viết của người Thái nơi đây.
        Ngôn ngữ: Người Thái nói các thứ tiếng thuộc hệ ngôn ngữ Thái-Ka đai, trong nhóm này có tiếng Thái của người Thái (Thái Lan), tiếng Lào của người Lào, tiếng Shan ở Myanma và tiếng Choang ở miền Nam Trung Quốc. Tại Việt Nam, có 8 sắc tộc ít người gồm Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái được xếp vào nhóm ngôn ngữ Thái.
       Chữ viết: Người Thái là một trong số rất ít các dân tộc thiểu số ở nước ta có chữ viết, có nguồn gốc từ vùng miền Nam Trung Quốc ngày nay và nhiều nhà ngôn ngữ học đã đưa ra những bằng chứng về mối liên hệ với các hệ ngôn ngữ Nam Á, Nam Đảo, hoặc Hán Tạng. Đây là một hệ thống mẫu tự theo hệ Sanscit. Sự phối hợp thanh điệu, quy tắc chính tả phức tạp, các chữ viết gần giống với chữ Lào, Thái Lan nhưng ngày nay đã bị mai một. Tuy chưa xác định được cụ thể thời điểm xuất hiện nhưng hàng ngàn năm nay Ngôn ngữ và Bộ chữ viết đã được người Thái ở Việt Nam, cũng như cộng đồng người Thái sống ở nước ngoài sử dụng, giữ gìn và bảo tồn. Bộ chữ Thái là một công cụ để ghi nhận và phản ánh đầy đủ, phong phú và tế nhị tư tưởng, tình cảm và tâm hồn trong sáng lành mạnh của dân tộc Thái. Thể hiện trong văn hoá nghệ thuật thơ, ca, tục ngữ, truyện, các phong tục tập quán.
        Trong tiếng Thái, ngôn ngữ hết sức đa dạng và phong phú, ngôn ngữ cũng bao gồm nhiều ngôi như trong tiếng Việt và cũng khá phức tạp.Hiện nay việc đồng bào Thái nói và viết chữ Thái đang dần mai một đi, rất nhiều bạn cùng trang lứa với tôi, là người Thái nhưng không nói được tiếng Thái.Và hiện nay trong quá trình dạy con trẻ các gia đình thường không  dạy con bằng tiếng Thái nữa để rồi cứ thế mai một dần sự giàu đẹp ngôn ngữ Thái. Về chữ viết, có lẽ ít ai là người Thái, mà có thể viết được chữ Thái, có thể có nhiều lí do khác nhau, do học một ngôn ngữ chung là Tiếng Việt nhưng lí do lớn nhất có lẽ là do các thế hệ sau không được truyền dạy cũng như chưa có trường lớp để dạy.
        Ngôn ngữ và chữ viết là phương tiện để hình thành và lưu truyền các hình thái quan trọng nhất trong đời sống văn hóa tinh thần của một dân tộc. Đồng thời, điều đó cũng góp phần bảo tồn và phát triển sự đa dạng trong văn hóa Việt Nam. Chính vì thế, riêng đối với ý kiến bản thân tôi, việc đưa ngôn ngữ vào trong giáo dục đối với các em học sinh dân tộc thiểu số là một điều hết sức hữu ích, quan trọng góp phần giữ gìn bảo tồn ngôn ngữ và chữ viết cho các thế hệ sau.
Không chỉ có ngôn ngữ chữ viết vô cùng đa dạng, người Thái tại Điện Biên còn có những nét đặc trưng trong ẩm thực.
        Một trong những đặc trưng nổi bật của dân tộc Thái là ẩm thực. Đối với người Thái, ẩm thực đã trở thành một nét văn hóa cổ truyền sâu sắc. Món ăn của dân tộc Thái thể hiện sự kết hợp hài hòa của sông, của rừng, của những tấm lòng chân quê giản dị. Chúng có một đặc trưng dễ nhận biết, đó là sự phân thực rất rõ ràng, là sự gia công đúng mực về kỹ thuật và nghệ thuật. Dân tộc Thái ưa cái hương vị đậm đà, giàu chất dinh dưỡng nhất là các món nướng. Độ đậm đà của hương vị các món ăn cũng đạt đến mức đỉnh điểm: cay thì thật là cay, ngọt thì thật ngọt mà chát thì không gì chát bằng. Món thịt trâu hoặc bò, cá, gà nướng được người Thái tẩm, ướp gia vị rất cầu kỳ. Gia vị để ướp là hạt tiêu rừng hay còn gọi là hạt “mắc khén”, ớt, tỏi, gừng, muối... Trước khi đem ướp với thịt, các gia vị cũng được nướng lên cho chín, hương thơm.
          Để nói đến những món ăn truyền thống của người dân tộc Thái thì có lẽ trong khuôn khổ bài viết này tôi sẽ không nói được hết. Tôi sẽ giới thiệu đến các bạn những món ăn quen thuộc nhất trong sinh hoạt của chính gia đình tôi cũng như cac gia đình khác tại Điện Biên nói chung. Có những món ăn đặc trưng như: Cơm lam, xôi nếp. Xôi nếp là món ăn truyền thống của dân tộc Thái. Người Thái có phương pháp xôi cách thuỷ bằng chõ gỗ rất kỹ thuật. Xôi chín bằng hơi, mềm, dẻo nhưng không dính tay. Xôi được đựng vào ép khẩu hoặc giỏ cơm đậy kín, ủ ấm, giữ cho cơm dẻo lâu. Để nấu được xôi ngon và dẻo người Thái chọn những loại gạo nếp nương với hạt gạo trắng trong, to, tròn. Có lẽ người Thái sống hòa mình với thiên nhiên bởi vậy những món ăn của người Thái luôn có nguồn nguyên liệu đơn giản từ chính cuộc sống xung quanh. Xôi của người Thái không chỉ đơn giản là có xôi màu trắng mà chúng ta có thể thấy xôi ngũ sắc, xôi có 5 màu: Trắng nguyên thuỷ của gạo nếp và các màu vàng, xanh, đỏ, tím. Các màu này tượng trưng cho: Sức khoẻ, tiền tài, hạnh phúc, môi trường sống, sự thuỷ chung. Mâm xôi ngũ sắc thường được bày ở trung tâm mâm cỗ. Các nắm xôi được bày bên nhau theo kiểu quần tụ hoặc xếp thành núi, xếp thành 5 cánh hoa ban bày trên lá cây (trước đây) hoặc kết đĩa vòng tròn (bây giờ). Để làm nên những màu sắc đẹp như vậy thì nguồn nguyên liệu từ từ các lá cây rừng. Với màu sắc và mùi hương của các loại lá cây rừng đã làm nên một món xôi riêng biệt của đồng bào Thái. Cũng với nguyên liệu chính là gạo nếp, người Thái có thể làm món cơm lam.Cơm lam là một món ăn giản dị, độc đáo và luôn tạo được sự bất ngờ cho người ăn đó là một món ăn của núi rừng, cơm có màu xanh nhẹ được nướng trong ống tre, ống nứa chặt trên rừng về. Món cơm tưởng chừng rất đơn giản trong nguyên liệu và cách làm nhưng ngược lại lại là cả một nghệ thuật, một ý tưởng của người vùng cao về sự hòa quyện giữa nước, lửa và những ống tre, nứa. Cách làm cơm lam rất dễ nhưng cũng đòi hỏi sự khéo léo của người thực hiện.
        Mùa nào thức nấy người Thái luôn tự túc và dựa vào tự nhiên như món  măng đắng, măng ngọt; rau cải ngồng, rau dớn... chấm với gia vị chéo, đậm đà vị cay của ớt, riềng, mặn của muối rang, hương thơm của rau. Họ ưu thức ăn có các vị cay, đắng, chát, bùi ít dùng các món ngọt lợ, đậm nồng..
        Người Thái rất thích uống rượu. Đối với họ uống rựơu là phong tục cho nên họ tự chế biến lấy để tiêu thụ. Rượu của người Thái có ba loại chính: Lảu xiêu (cất hay trắng), Lảu xả (Rượu cần), Lảu vang (rượu nếp cái). Người Thái xem rượu là cái cớ để cởi mở niềm vui, sự hân hoan mang tính văn hóa lành mạnh, không bê tha. Với người Thái, rượu cần là thức men thú vị mỗi khi có đình đám. Sinh hoạt ẩm thực của người Thái có cung cách giờ giấc nhất định. "Kín lảu mi ngan, đa pan mi pựa", tức là ăn có bữa, rượu có giờ.
        Người Thái hút thuốc lào bằng ống điếu tre, nứa và châm lử bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ.
        Về văn hóa ẩm thực của người Thái thật sự vô cùng phong phú, người Thái có rất nhiều món ăn ngon và đậm chất riêng mà không một dân tộc nào có. Điều đó khiến những người con dân tộc xa quê như tôi luôn một lòng hướng về mảnh đất mình đã sinh ra và lớn lên, luôn nhớ những món ăn mà người mẹ, người bà vẫn hay nấu cho các con, các cháu. Cùng với sự phát triển đi lên của xã hội thì văn hóa ẩm thực của đồng bào ở đây cũng có sự thay đổi, tuy nhiên vẫn giữ được những nét truyền thống của dân tộc. Người Thái với lòng hiếu khác và chân thành. Khi nhà có khách, họ sẽ tiếp đãi khách bằng những chén rượu nồng chất chứa nhiều tình cảm và những món ăn ngon nhất của chính nhà mình.

Cơm Lam



Xôi ngũ sắc

Rau dớn xào – Một đặc sản Tây Bắc

         Về phong tục – tập quán, tiêu biểu là tục cưới hỏi và ma chay:
        Cưới hỏi: Gia đình người Thái theo gia đình phụ hệ, nhưng trước kia người Thái có tục ở rể nên lấy vợ lấy chồng phải qua nhiều bước,trong đó có 2 bước cơ bản:
        Cưới lên (đong hưn): đưa rể đến cư trú nhà vợ là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. người Thái đen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu (tẳng cau) cho người vợ sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm, sau đó thời gian ít dần còn vài ba năm khi đó đôi vợ chồng đã có con mới về ở bên nhà chồng, bây giờ vẫn còn giữ tục lệ nhưng khá ít, chỉ khi trường hợp gia đình bên gái khó khăn thì sẽ ở rể, quá trình sau này gọi là cưới xuống
        Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha
        Ngoài cưới hỏi theo truyền thống thì người Thái còn có tục “Trộm vợ”, khi đôi trai gái yêu nhau, muốn lấy nhau nhưng điều kiện không cho phép thì người con trai sẽ trộm cô gái về để tránh khỏi nhiều hủ tục rườm rà, tốn kém khi hỏi cưới. (chàng trai đến nhà cô gái trộm về trong đêm và đặt một chai rượu, trầu cau lại nhà cô gái để sáng ra bố mẹ biết là con gái đã bị trộm vợ, nhà trai sẽ đem lễ vật đến chịu thú và xin cưới ngay. Ngày nay một số người lợi dụng phong tục này để “bắt vợ” mặc dù không yêu nhau, làm biến tướng và mất đi cái hay của bản sắc dân tộc và phải chịu sự trừng phạt của pháp luật nhà nước).
Đó là lễ cưới truyền thống của dân tộc Thái. tuy nhiên, cuộc sống ngày càng hiện đại và trở nên hội nhập chính vì vậy mà các thủ tục rườm rà và không cần thiết gần như đã được xóa bỏ. tuy nhiên, vẫn giữ được những nét truyền thống như người con gái khi lấy chồng phải “tẳng cẩu”, nghĩa là phải búi tóc trên đầu, đối với người Thái đen là vậy, trong ngày cưới người con gái mặc trang phục truyền thống của dân tộc.
       Ma chay: của người thái tương đối phức tạp.
Đối với người chết, người Thái quan niệm chết là tiếp tục “sống” ở thế giới bên kia vì vậy đám ma là lễ tiễn người chết về với “mường trời”. Đám tang thường có nhiều lần cúng viếng để linh hồn được lên với mường trời.
        Lễ tang có 2 bước cơ bản la pông và Xống. Pông có nghĩa là phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái trắng), thiêu (Thái đen).Xống là đưa đồ tang lễ ra bãi tha ma và kết thúc bẵng lễ gọi ma trở về ngụ tại gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.
        Người Thái Điện Biên cũng như các vùng miền khác có quan niệm đa thần và giữ tục cúng tổ tiên. Do đời sống gắn liền với sản xuất nông nghiệp nên có tục lấy nước đêm Giao Thừa, lễ hội đón tiếng sấm năm mới và một số lễ hội cầu mùa khác, các lễ hội xăng khan, xến bản, xến mường, lễ hội hạn khuống, lễ hội mừng lúa mới là những lễ hội đặc trưng của dân tộc.
         Người Thái đón tết Nguyên Đán rất cầu kỳ và chu đáo, mọi sự chuẩn bị cho ngày tết được bắt đầu từ nửa tháng trước đó, sau đó là các giai đoạn 23 tháng chạp đón tết ông công ông táo như người Việt, 28 rửa lá rong, 28 gói bánh chưng, 29 nấu bánh chưng, 30 tết đón giao thừa cúng tổ tiên mừng năm mới và đi lấy nước lộc đầu năm. Sang mồng một tết thờ cúng tổ tiên, cúng thần đất, thần núi, thần nước, thần bếp xong xuôi tất cả thì chọn người xông đất như người Việt. Ngày Tết đến ngày thứ 7 thì làm lễ khai hạ, lúc đó mọi người mới đi ra đồng làm việc, khoảng thời gian này cũng có rất nhiều hoạt động vui chơi như ném còn, nhảy sạp, hội thi bắn nỏ, chơi quay và  mạc lẹ, vũ hội rượu cần với các điệu xòe, điệu múa lăm vông quanh chum rượu cần.

Thiếu nữ Thái với lễ hội Ném còn

         Còn về kiến kiến trúc nhà ở, đồng bào Thái nơi đây chủ yếu sinh sống trong những ngôi nhà sàn đầm ấm tình yêu thương giữa các thế hệ.
Điểm khác biệt nhất của nhà cửa người Thái so với người Việt là họ xây nhà sàn. Nhà người Thái trắng có khá nhiều điểm gần với nhà Tày-Nùng. Còn nhà người Thái Đen lại gần với kiểu nhà của các cư dân Môn-Khmer. Tuy vậy, nhà người Thái Đen lại có những đặc trưng không có ở nhà của cư dân Môn-Khme. nhà người Thái có nhiều dáng vẻ khác nhau, nhà mái tròn nóc khum hình mai rùa, “chỏm đầu đốc” có “khau cút” với nhiều kiểu khác nhau. Nhà bốn mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can, nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh. Hai gian hồi để trống và có lan can bao quanh. Khung cửa ra vào và cửa sổ có nhiều hình thức trang trí khác nhau. Vách tường thường được đan bằng tre, nứa tạo thành các phên và ván gỗ làm tường nhà, nền sàn cũng được dùng từ cây tre, mét. Mái nhà được lợp bằng lá tranh, lá cọ. nhưng ngày nay thường chuyển sang lợp ngói.
        Bộ khung nhà Thái có hai kiểu cơ bản là khứ kháng và khay điêng. khứ kháng được mở rộng bằng cách thêm hai cột nữa so với khay điêng.
Cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt của nhà Thái Đen khá độc đáo: các gian đều có tên riêng. Trên mặt sàn được chia thành hai phần: một phần dành làm nơi ngủ của các thành viên trong gia đình, một nửa dành cho bếp và còn là nơi để tiếp khách nam.
         Mừng nhà mới: dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung tá (thông gia) châm lửa đốt củi ở bếp mới. Một nhà người Thái xưa thường có 2 bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm. một bếp khác dùng để nấu ăn, người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi tà ác, thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi uống rượu cần.
        Hiện nay những mái nhà sàn đã cách điệu với những kiểu kiến trúc hiện đại hơn. Tuy nhiên nét truyền thuyền thống vẫn được thể hiện ở những ngôi nhà sàn hiện đại.

Nhà sàn truyền thốn của dân tộc Thái Tây Bắc

         Trong văn hóa của người Thái Điện Biên, văn học dân gian và âm nhạc khá đa dạng và đặc sắc cho và rất riêng của dân tộc.
        Văn học dân gian: Thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện thơ, ca dao... là những vốn quý báu của văn học cổ truyền người Thái. Những tác phẩm thơ ca nổi tiếng của dân tộc Thái là: Xống chụ xôn xaoKhun Lú Nàng Ủa. Người Thái sớm có chữ viết nên nhiều vốn cổ (văn học, luật lệ, dân ca) được ghi chép lại trên giấy bản và lá cây.
        Âm nhạc: Với nhiều loại hình nhạc cụ như: Khèn, Sáo, Cồng Chiêng và Khắc Luông. Múa (xẽ, xoè) với hai cấp độ là: Múa tập thể dân dã và múa biểu diễn hay múa phong cách. Người Thái rất thích ca hát, đặc biệt là khăp tay. “Khắp” là lối ngâm thơ hoặc hát theo lời thơ, có thể đệm đàn và múa. Nhiều điệu múa như lăm vông đặc sắc nhưng đơn giản ai cũng có thể hòa vào điệu múa này, loại hình múa xòe, múa sạp đã được trình diễn trên sân khấu trong và ngoài nước, hấp dẫn đông đảo khán giả. Hạn khuống, ném còn là hai đặc trưng văn hóa nổi tiếng của người Thái. Ngoài ra còn có điệu suối, nhuôn ( lối hát đối đáp giao duyên) thường hát lên trong lúc sản xuất cũng in sâu trong bản sắc của văn hóa dân tộc.
         Và tiêu biểu của một dân tộc được thể hiện ở trang phục.Các nhóm người Thái như Thái Đen, Thái Trắng đều có nhiều điểm chung trong trang phục hằng ngày nhưng trong đó, vẫn nổi bật bản sắc riêng.
        Một bộ trang phục truyền thống phụ nữ Thái gồm: áo ngắn (xửa cỏm), áo dài (xửa chái và xửa luổng) được đính hàng khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu… chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với váy (xỉn) màu thẩm hình ống, Phụ nữ Thái mặc váy hai lớp: váy trắng lót bên trong và và váy chàm mặc ngoài, thắt lưng (xải cỏm) bằng dải lụa màu xanh lá hoặc tím xẫm, giữ cho cạp váy quấn chặt lấy eo bụng, kết hợp với khăn (piêu) cuốn đầu, đội nón (cúp), các loại hoa tai, vòng cổ, vòng tay và xà tích bạc đeo ở bên hông. Áo ngắn có thể may bằng nhiều loại vải với màu sắc khác nhau. Váy thì được dệt và thêu với nhiều họa tiết như long, phượng, mặt trời…
Sự khác biệt giữa nữ giới của dân tộc Thái Đen và Thái Trắng được thể hiện trong các dịp hội hè. Những dịp đó, phụ nữ Thái Trắng thường mặc áo dài màu đen. Đây là loại áo dài thụng thân thẳng, không lượn nách, được trang trí bằng vải “khít” ở giữa thân có tua vải phủ từ vai xuống ngực, nách áo trang trí theo lối đáp hai mảng hoa văn trong bố cục hình tam giác. Phụ nữ chưa chồng búi tóc sau gáy, có chồng búi trên đỉnh đầu. Họ có loại nón rộng vành. Trong khi đó, phụ nữa Thái Đen thường mặc áo dài xẻ nách, chui đầu, trang trí phong phú đa dạng về màu và màu mà mô-típ hơn Thái trắng.
         So với trang phục nữ, trang phục nam người Thái đơn giản và ít chứa đựng sắc thái tộc người và cũng biến đổi nhanh hơn. Trang phục nam giới gồm: áo, quần, thắt lưng và các loại khăn. Nam thường mặc quần cắt theo kiểu chân què có cạp để thắt lung, màu quần áo phổ biến là màu đen, có thể là màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng.
          Áo nam giới có hai loại, áo cánh ngắn và áo dài. Áo ngắn may bằng vải chàm, kiểu xẻ ngực, tay dài hoặc ngắn, cổ tròn. Khuy áo làm bằng đồng hay tết thành nút vải. Áo không có trang trí hoa văn chỉ trong dịp trang trọng người ta mới thấy nam giới Thái mặc tấm áo cánh ngắn mới, lấp ló đôi quả chì (mak may) ở đầu đường xẻ tà hai bên hông áo...


Trang phục dân tộc của con gái Thái đen ở Tây bắc

Đời sống vốn gắn bó với thiên nhiên, với rừng núi.Người Thái hoạt động sản xuất dựa vào nông nghiệp là chính, chủ yếu là dựa vào trồng lúa nước trên các cánh đồng thông lũng, nếp nương ở các sườn đồi, dân cư có nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mương, dựng con, bắc máng lấy nước làm ruộng. ở những nơi đất cao hơn không dẫn nước vào được thì xây dựng các cây guồng để đong nước từ suối lên ruộng. lúa nước là nguồn lương thực chính, đặc biệt là lúa Nếp. Người Thái cũng làm nương để trồng lúa, hoa màu và nhiều thứ cây khác. Từng gia đình chăn nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, trồng bông se sợi, trồng cây thuốc nhộm, dệt vải, một số nơi làm đồ gốm... người Thái có nghề dệt rất lâu đời, các sản phẩm nổi tiếng của người Thái là vải thổ cẩm, với những hoa văn độc đáo, màu sắc rực rỡ, bền đẹp. Người dân tự trồng dâu nuôi tằm se sợi, dệt thổ cẩm. hoạt động săn bắn thời trước và nay là chăn nuôi cũng rất được chú trọng.
        Ngày nay hoạt động sản xuất của người Thái cũng đã được giao thoa, học hỏi người kinh, xuất hiện thêm nhiều ngành mới trong hoạt động sản xuất, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để đảm bảo sự phát triển bền vũng của dân tộc, kể cả hoạt động dịch vụ. người dân đã đưa khoa học kỹ thuật vào canh tác sản xuất nhưng vẫn còn hạn chế.

Ruộng bậc thang trên cao nguyên Sín Chải – Tủa Chùa – Điện Biên

        Trong tổ chức xã hội, người Thái cũng rất đoàn kết. Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản, mường hay theo chế độ phỉa tạo. tong tộc Thái gọi là Đẳm. mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ai Nọong ( anh em; tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung tá (thông gia: tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ), Nhinh xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).
Bản mường Thái thường định cư gần nguồn nước, mỗi bản có từ vài chục đến hơn trăm nóc nhà kề bên nhau, có già làng, trưởng bản cai quản bản mường. Người Thái ở nhà sàn thường ở chân đồi núi, trong thung lũng nhưng dần dần cũng đã chuyển ra gần đường chính và dần thay nhà sàn bằng nhà trệt như người miền xuôi.
Phương tiện vận chuyển: Ngày xưa, người Thái thường đi bộ, vận chuyển gánh là chủ yếu, ngoài ra, gùi theo kiểu chằng dây đeo sau lung, dùng ngựa cưỡi, thồ. Trên các con sông thì di chuyển bằng bè. Nay đã có các phương tiện hiện đai như xe gắn máy để đi lại, xe bò, xe tải để chở vật dụng, hàng hóa.

Đàm Minh Phiếu