Lý tính không bao giờ tác động trực tiếp vào một sự vật (1), mà chỉ hướng đến sự thông hiểu, rồi qua đó, vận dụng kinh nghiệm quen thuộc của nó. Lý tính không tạo ra các khái niệm (của sự vật), mà chỉ sắp đặt để đem lại cho chúng tính thống nhất bao quát nhất có thể được (...) Sự thông hiểu liên kết các tính chất đa dạng của sự vật bằng những khái niệm, trong khi lý tính liên kết sự đa dạng của các khái niệm bằng những ý tưởng , để đưa tất cả đến một sự thống nhất được coi như mục đích của mọi nỗ lực thông hiểu. 

Khi nhìn toàn bô sự thông hiểu, chúng ta nhận thấy lãnh vực đặc thù của lý tính, hay điều mà nó muốn tạo ra, là tính hệ thống của hiểu biết, tức sự nối kết quanh một nguyên lý. Sự thống nhất này giả định một Ý Niệm, tôi muốn nói đến một hình thức hiểu biết tổng hợp có trước những hiểu biết cục bộ của từng sự kiện. Ý Niệm ấy bao hàm các điều kiện cần thiết để quy định một cách tiên quyết chỗ đứng của mỗi thành phần trong tương quan với những sự kiện khác (...) Người ta không thể nói rằng Ý Niệm (hệ thống) y là khái niệm của một sự vật, mà nó chính là sự tổng hợp của mọi khái niệm, được lấy làm  khuôn mẫu cho sự thông hiểu. Loại « khái niệm thuần lý » như thế  không đến từ thiên nhiên (2), mà ngược lại, bắt chúng ta tìm hiểu thiên nhiên dưới sự chỉ huy của những ý niệm y, và coi các hiểu biết của mình là sai lầm nếu không thích nghi được với chúng (...) 

Sự thống nhất mang tính thuần lý chính là sự thống nhất của hệ thống, và mục đích của nó không phải là sự hữu dụng khách quan của một nguyên lý được trải rộng đến mọi sự vật, mà sự gắn bó chủ quan vào một châm ngôn được áp dụng cho moi hiểu biết (…) Tuy nhiên, lý tính không thể quan niệm sự thống nhất hệ thống mà không tạo ra cho Ý Niệm ấy một đối tượng. Đối tượng này nằm ngoài thực nghiệm, vì thực nghiệm không bao giờ đem lại nổi một thí dụ hoàn hảo của thống nhất hệ thống. Một hiện hữu thuần lý như thế (…) chỉ đơn thuần là một ý niệm, và không thể được coi như một thực tế (…) Người ta sẽ không hiểu nổi ý nghĩa của ý niệm ấy, nếu khẳng định, hay chỉ giả định, rằng nó là sự thật, một sự thật được suy tôn thành nguyên lý cho việc tạo nên thế giới một cách hệ thống. 

CRITIQUE DE LA RAISON PURE, « APPENDICE À LA DIALECTIQUE TRANSCENDANTALE » 

Nguyễn Hoài Vân phỏng dịch

(1) đối tượng của một khái niệm 

(2) Kant dùng chữ khái niệm ở đây một cách gượng ép, vì "khái niệm" buộc phải có đối tương trong thiên nhiên, có thể kiểm chứng bằng thực nghiệm, nếu không thì là ý niệm. Vì thế, trong phần tiếp của câu, Kant dùng lại chữ ý niệm.

Ghi thêm :

Sau khi gạt Thiên Chúa xuống hàng ý niệm (*), Kant tiếp tục với hệ luận của ý niệm này là "ý niệm hệ thống". Chỉ cần tưởng tượng một lịch sử không còn ý nghĩa, không có hướng đi, lịch sử cá nhân, lịch sử loài người, hay lịch sử thiên nhiên ... vì không thể hình dung được chúng  một cách toàn diện, hệ thống ... 

(*) Xem (bấm vảo tựa bài) :