Đền Xâm Thị thờ mẫu Thoải và Mẫu Địa nằm ở làng Xâm Thị, xã Hồng Vân Thường Tín, Hà Nội. Lễ hội Đền Xâm Thị luôn được gắn với Đình Xâm thị tạo thành một lễ hội Đình - Đền đặc sắc. Lễ hội thường kéo dài 10 ngày từ mùng 1/2 đến hết 10/2 hàng năm. Lễ hội này được coi là Hội làng quan trọng nhất trong năm của ba con Xâm Thị nói chung và khách thập phương yêu thích Đạo Mẫu.
Lễ hội Đình Đền Xâm Thị

Nguồn gốc lễ hội Đình - Đền Xâm Thị

       Theo Thần phả Đình Xâm thị do Đại Các Học Sĩ Nguyễn Bính biên soạn năm 1572 và Lễ Bộ Thượng Thư Tuấn Doãn biên soạn lại năm 1626 thì Đình Xâm Thi thờ Nhị Vị Đại Vương:  Nhập Nội Cảm Ứng Kiến Quốc Hưng Cơ Đại Vương và Linh Quốc Hiển Ứng Đại Vương. Đây là các vị đại vương vốn là tiên thánh được giáng thế, giúp vua Hùng đánh đuổi quân Thục. Sau khi thắng trận, hai Ngài đã hóa tại vùng đất Xâm Thị để trở về thủy cung.  Đình Xâm Thị đã được 17 đạo sắc phong, ban mỹ tự của các triều đại kể từ thời Trần Nhân Tông đến nay. Thân thế và sự nghiệp cụ thể của nhị vị đại vương này vẫn được lưu giữ ở ngôi đình này.

Đình Xâm Thị đang được tu bổ.

        Theo các tài liệu cổ thì vùng đất Xâm Thị hiện nay thuộc Tổng Xâm Thị (nếu gọi đúng thì là tổng Thâm Thị), phủ Thượng Phúc, thành Đông Quan ngày xưa. Thời đó Tổng Xâm Thị có 6 làng. Trong đó làng Xâm Thị nằm ở trung tâm; phía đông là làng Xâm Khố (nay thuộc đất Hưng Yên ở bên kia sông Hồng, phía bắc là Xâm Dương, phía tây là Xâm Động, phía nam là Xâm Hồ và Xâm Xuyên. 
       Theo các tụng truyền thì Xâm Dương là nơi đóng quân thủy của vua Trần Nhân Tông, làng Xâm Khố là nơi có kho muối, kho lương của Ngài. Có lẽ vì vậy, làng này có tên là Xâm Khố bởi Khố trong âm Hán Việt có nghĩa là kho. Đình Xâm Thị thuộc làng Xâm Thị là nơi Ngài đến cầu đảo trước khi xuất binh chống giặc. Đền Xâm Thị là nơi Ngài và quần thần ghé thuyền lên Đình Xâm Thị để cầu đảo.

Đền Xâm Thị

       Theo tụng truyền thì Đền Xâm Thị ngày xưa là bến thuyền giao thương giữa 2 làng Xâm Khố và Xâm Thị. Nơi đây cũng là nơi xuất phát của bà con ngư dân Xâm Thị đi đánh cá trên sông Hồng. Nghe danh Đình Xâm Thị thờ nhị vị đại vương rất linh thiêng, vua Trần Nhân Tông và quần thần, trước khi xuất binh nghênh địch, đã ghé đến bến sông này để vào Đình Xâm Thị cầu đảo. Sau này, nhờ sự anh linh của nhị vị đại vương, vua Trần Nhân Tông đã được Mẫu Thoải linh ứng giúp đỡ. Thắng trận trở về Ngài đã cho dân chúng xây dựng đền thờ Mẫu Thoải tại bến sông Xâm Thị và Xâm Dương để ghi công phù độ của Mẫu Thoải và nhị vị Đại Vương. Chính vì vậy, trước đây lễ hội đền Xâm Dương và Xâm Thị đều được phối lễ, phối hội với Đình Xâm Thị. Tuy nhiên, sau này khi phục dựng lại lễ hội Đền Xâm Dương (còn gọi là Đền Dầm) thì nghi thức phối lễ, phối hội với Đình Xâm Thị của Đền Xâm Dương đã được giản tiện. Có lẽ một phần vì Xâm Dương đã tách về xã mới là Ninh Sở nên việc tế hội đã giản tiện lại. Ngày nay, lễ hội của Đền Xâm thị vẫn luôn gắn chặt với Đình Xâm Thị như phong tục ngày xưa. Làng Xâm Khố cũ, tuy bên kia sông, tuy đã thuộc đất Hưng Yên nhưng vẫn duy trì tục cũ phối hợp với Xâm Thị để phụ trợ lễ hội của Đình - Đền Xâm Thị.

Lễ hội Đình - Đền Xâm Thị

       Lễ hội Đình - Đền Xâm Thị tuy kéo dài 10 ngày, từ mùng 1 đến mùng 10 tháng 2 âm lịch hàng năm, nhưng được tập trung vào 4 ngày chính: Ngày mùng một rước kiệu từ Đình ra Đền. Ngày mùng 5 tiến hành lễ cấp nước và rước nước trên sông Hồng, ngày mùng 7 ngày tế chính; ngày mùng 10 rước kiệu về Đình. Còn các ngày khác trong lễ hội là ngày để bà con có thời gian lễ Đình, lễ Đền để cầu phúc, tài, lộc cho cá nhân,
       Lễ hội này được phục dựng lần đầu năm 1987, đến năm 1992 trở lại đây mới được hoàn thiện theo lối xưa. Đây là một lễ hội đặc trưng của vùng sông nước với tục thờ Mẫu Thoải. Nhưng nét đặc sắc ở đây là sự phối hội, phối lễ giữa Đình thờ thành hoàng với Đền thờ Mẫu Thoải. Đây là một nét riêng của vùng đất này mà không đâu có. Lễ hội được phục dựng theo lối cổ trang nghiêm, sống động, hoành tráng và là dịp thỏa nguyện tâm linh của dân chúng quanh vùng.

Một góc của Đền Xâm Thị

     Ngay từ sáng sớm mùng 1 lễ hội bắt đầu bằng cuộc rước kiệu từ đền ra đền. Đoàn kiệu gồm kiệu Long Đình, kiệu Ông, kiệu Bà với di hiệu, cờ thần, bát bửu... với sự hộ tống của các chức sắc, dân chúng trong làng trong tiếng trống rộn ràng, tạo nên một không khí uy nghi, trang trọng trong sự hồ hởi vui sướng hân hoan của bà con. Trước đây, theo các cụ cao niên của làng thì buổi rước kiệu thường xuyên xẩy ra hiện tượng "Kiệu bay". Các cụ bảo đó là do các Ngài linh ứng.
      Lễ cấp nước và rước nước trên sông Hồng được diễn ra trong một khung cảnh trang nghiêm, rộn rã. Một thuyền rồng lớn lớn trang hoàng cờ xí rợp trời chở bầu trang (tráp lễ mặn), chóe nước cùng đoàn tùy tùng rời bến và ngược sông Hồng trong tiếng trống, tiếng hò reo của mọi người tạo nên một không khí sôi động, hồ hởi nhưng đậm chất tâm linh trên dòng sông vốn hàng ngày thơ mộng, thanh bình.

Lễ rước kiệu trong lễ hội Đền Đình Xâm Thị

       Phía bên làng Xâm Khố cũng có một con thuyền rồng uy nghi với cùng xuất phát và hòa nhập với thuyền rồng của làng Xâm Thị tạo thành lưỡng rồng trên sông. Trên thuyền, các chức sắc vừa chiêng trống vừa tiến hành khấn lễ theo lễ nghi hòa trong tiếng trống thúc, tiếng hò reo rộn rã của cả hai bên bờ sông. Một không khí rộn ràng, hồ hởi trên dòng sông thơ mộng khiến lòng mỗi người lâng lâng, rạo rực. Khi xong lễ nghi lễ bái xong thì cũng là lúc con thuyền qua khỏi địa phận Xâm Thị. Lễ cấp nước được khởi đầu bởi một cụ lão " Đức cao vọng trọng" trong làng thực hiện, sau đó tiếp tục đến các chức sắc. Con thuyền trở lại bến trong tiếng trống, tiếng hò reo của mọi người để tiếp tục nghị thức thả thuyền rồng. Nghi thức thả thuyền rồng là một nghi thức quan trọng để cầu mong cho mưa gió thuận hòa và cầu phúc cho mọi người dân.

Đền Xâm Thị và bến sông nơi xưa

      Buổi chiều sau khi nghi lễ cấp nước và rước nước thì phần hội được diễn ra với các trò chơi dân gian như đuổi vịt, đập niêu và văn nghệ dân gian với những điệu nhạc dân gian vùng đồng bằng bắc bộ, các điệu chầu văn. Đây là phần hội vui nhất trong lễ hội.
     Ngày mùng 7 là ngày tế chính diễn ra tại đền. Buổi sáng các đội tế nữ thực hiện các nghi lễ tế. Buổi chiều là các nghi lễ cúng khấn, tấu văn sớ. Buổi tối là nghi thức hầu bóng để tạ ơn Mẫu Thoải và các vị thánh trong Tứ Phủ. Nghi lễ này còn gọi là "Lễ ngả bóng". Điều kỳ lạ nghi thức này thường có những biểu hiện huyền bí mà chỉ vào dịp lễ hội mới xẩy ra khiến chưa ai giải thích được.


      Ngày mùng 10 là ngày rước kiệu về Đình. Buổi sáng Đình sẽ tiến hành tế bởi đội tế nam. Sau phần lễ là tiệc thụ lộc lễ tạ của dân chúng và các chức sắc trong làng để mừng cho lễ hội thành công.

Giá trị văn hóa và tâm linh của lễ hội Đình - Đền Xâm Thị

      Theo các cụ cao niên trong làng thì được về dự lễ hội là một diễm phúc, là một thời điểm hiếm có và tốt nhất cho việc cầu tài, cầu lộc, cầu phúc. Vì thế, cứ đến ngày lễ hội, các con cháu của làng dù xa đến mấy đều cố gắng thu xếp để về tham dự. Khách thập phương biết đến sự linh thiêng của Đền Xâm Thị cùng không bỏ qua cơ hội để đến xin tài lộc của Mẫu và nhị vị đại vương.


       Như trên đã nói, theo truyền tụng thì đền Xâm Thị chính là nơi vua Trần Nhân Tông đã ghé thuyền để lên Đình Xâm Thị để cầu đảo, còn Xâm Dương là nơi đóng quân của Ngài. Vì thế, sau này chiến thắng Ngài đã sắc phong cho nhị vị đại vương ở Đình và cho xây đền Xâm Dương và Xâm Thị. Vì thế, có thể coi Đền Xâm Thị, Đền Xâm Dương (đền Dầm) là hai đền chính gắn với tích Mẫu Thoải phù độ cho vua Trần Nhân Tông đánh giặc. Tuy nhiên, chỉ có đền Xâm Thị vẫn giữ được lễ hội Đình - Đền như thời cổ.
Một video clip về lễ hội Đình Đền Xâm Thị.

     Theo các nhà nghiên cứu về văn hóa và tâm linh thì Lễ hội Đình - Đền Xâm Thị là một lễ hội đặc sắc mang nét đặc trưng của riêng vùng miền. Đây là một nghi thức lễ hội được phục dựng theo lối cổ từ xa xưa, ít nơi nào còn giữ được. Một lễ hội mang mầu sắc tâm linh vừa để tạ ơn Mẫu, tạ ơn thành hoàng làng vừa để cầu mưa thuận gió hòa, vừa cầu phúc lộc cho bà con dân làng và khách thập phương. Lễ hội đặc sắc này là một niềm tự hào, vinh dự của những người con Xâm Thị.


Đôi nét về Đền Xâm Thị

        Đền Xâm Thị nằm ở một vị trí đắc địa. Theo phong thủy thì đây là một địa điểm tràn trề linh khí. "Lưng tựa sơn, mặt hướng thủy", Chu Tước là dòng sông trong xanh, hiền hòa; Huyền Vũ là con đê quai và làng quê trù phú; thế đất này còn có đủ tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ. Đây là một điểm phong thủy hiếm có. Vì thế, nơi đây luôn là nơi cầu đảo linh thiêng cho dân làng và du khách thập phương.