Derrida, một người tiên phong và một nhà nối kết




Vài hàng vsách "de la Grammatologie" 

§§§§§§§§§§§§ 

Giữa trào lưu còn mạnh mẽ của thuyết Hiện Sinh, khi Cấu Trúc Chủ Nghĩa đặt dấu ấn trên Nhân Chủng Học, khi Phân Tâm Học đến một ngã rẽ, khi dòng suy tư của Hiện Tượng Luận vẫn còn đang phát triển, Derrida mở ra một bối cảnh mới cho toàn bộ triết học, hướng về nhưng căn nguyên của nó, đặt nó trong tương quan chặt chẽ với văn chương, như một người nối kết và một nhà tư tưởng tiên phong.
De la Grammatologie là mt tác phm quan trng ca ông. Trong đó, tiến trình  "gii cu" được áp dng cho toàn b tư tưởng, đ chviết hin lên nhưngun gc và stiếp tc ca li nói ("grammatologie" là "khoa hc chviết"). 

Giải cấu 

Một ý niệm về giải cấu có thể đọc được ở đây : **** 

Như đã nói trong bài vừa trích, Derrida rất ngần ngại khi đề ra một phạm trù rõ rệt cho "giải cấu". Lý do vì khi đề ra một phạm trù rõ rệt cho giải cấu, thì chính giải cấu cũng sẽ bị tan biến trong sự giải cấu của chính nó. Nhiều ý tưởng khác của Derrida, như "siêu văn tự" (archi writing), "dấu vết" (trace) và "siêu dấu vết" (archi trace), khác biệt (différence) với "hướng đến khác biệt" (différance), chỉ được tiếp cận bằng phác họa, ấn tượng, cũng phần nào vì lý do ấy. 

Chúng ta có thể nhận xét là trong nhãn quan "giải cấu", những gì được coi như thứ yếu, như những nhấn mạnh trong câu nói, những im lặng, đứt quãng, giọng điệu, đều lấy lại chỗ đứng vô cùng quan trọng của chúng. Với cùng một phương thức đảo ngược giá trị như thế, chúng ta có thể bắt đầu hình dung được tầm quan trọng, hay nói rõ ra là tính ưu thắng, của chữ viết, đối với lời nói. 

Viết và nói 

Vì chúng ta viết theo ngữ âm, nên người ta thường quan niệm chữ viết như một phó sản của lời nói, là sự ký âm lại một diễn văn. Truyền thống tư tưởng cho là diễn văn, tức lời nói, mới quan trọng. Chữ viết chỉ là phương tiện để lưu trữ lại, để truyền đạt lời nói trong thời gian và không gian. Toàn bộ triết học, và cả văn chương, đều được xây dựng trên thứ bậc này, như thể người ta đã đặt ra chữ viết, theo ngữ âm, chỉ để phục vụ cho lời nói (1). 

Derrida đảo ngược tương quan này một cách triệt để. Ông nói : "Ch viết đến trước và tiếp ni li nói" (Derrida - de la Grammatologie). Tc là va không ph đnh vai trò lưu tr, truyn đt ca ch viết đi vi li nói ("tiếp tục lời nói"), nhưng đng thi li đt chviết nhưngun gc ca li nói ! Derrida coi truyềnthống hthp vai trò ca chviết như mt schối bmang tính dn nén, theo ý nghĩa ca ch này trong phân tâm hc. 

Làm thế nào biện minh được cho quan điểm ấy ? 

Những thí dụ được đưa ra, từ các đoạn văn của Rousseau, Hegel, Nietzsche, Levy Strauss ... cho thấy các diễn văn đều được "quán tưởng" (meditate) từ những gì người ta hình dung như một bài viết, trước khi được thực sự ký âm lại trong chữ viết. Tức là, ngoài ngôn ngữ thường ngày, người ta nói như thể mình viết, trước khi ký âm diễn văn ấy thành câu viết. Nói cách khác, có một dạng "viết" trước nói, trước khi cái "viết" tiếp tục lời nói. 

Tuyên bố và mô tả 

Derrida dùng hai khái niệm tuyên bố và mô tả để chỉ ra tương quan giữa nói và viết. Khi "tuyên bố", người ta đọc lên một bài viết với sự chú tâm tối đa vào nó. Tuy nhiên, "tuyên bố" không bao giờ đầy đủ. Nó luôn đòi hỏi "mô tả", giải thích, thuyết minh (nói rõ) ... Lời tuyên bố không làm rõ nổi những mong muốn, ước vọng, có ý thức và không ý thức, của tác giả. Nó bỏ qua nhưng gì tác giả không viết ra, vì giới hạn của ngôn ngữ, vì sự gò bó của những cấu trúc ngôn từ đã được quy định trong tiếng nói, vì những áp đặt của môi trường tâm lý, xã hội v.v... Người ta tuyên bố những gì được viết, tức là : lời nói đi theo câu viết, biết rằng câu viết ấy là sự ký âm của những lời nói trước đó. Đồng thời, người ta lại luôn có nhu cầu mô tả những gì được tuyên bố, tức cái lời nói đã cho ra câu viết mà người ta tuyên bố, vì luôn cảm thấy nó không đầy đủ, nó thiếu thốn, đầy những khe hở, những lỗ trống cần được lấp đầy. Lấp đầy những lỗ trống ấy, chính là chức năng của một loại "viết", có trước lời nói. 

Trong thời gian, mỗi sự tuyên bố sẽ cho thấy thêm những lỗ hổng khác nhau, và khiến cho người ta càng ngày càng nhận ra thêm những dấu tích của sự "viết" tiềm tàng trong đó, để mỗi lúc mỗi khẳng định thêm vai trò của "viết" trong "lịch sử" của mọi diễn văn được ghi lại, tức trong toàn bộ triết học và văn chương ! 

Dấu Vết và Siêu Văn Tự 

Việc tìm về dấu vết của mọi phát biểu đưa đến một khái niệm mà Derrida gọi là "siêu văn tự" (archi writing). Đó là nguồn gốc và điều kiện của mọi ngôn ngữ, theo nghĩa rộng, tức của mọi sự diễn bày của tâm trí con người, bao gồm viết, nói, vẽ, múa, điêu khắc, kịch nghệ, âm nhạc, phim ảnh v.v... Trong mọi phát biểu, đã luôn luôn có sự hiện diện của nó. Tuy nó là điều kiện của ngôn ngữ (nghĩa rộng), nhưng nó không thể thuộc về ngôn ngữ. Nó bắt mọi phát biểu phải bị "giải cấu" trong thới gian, dù nó tiềm tàng trong hiện tại ... 

Đến đây chúng ta hiểu được vì sao Derrida coi "viết" như nguồn gốc của "nói". Vì dấu vết là gì, nếu không phải một sự ghi lại ? Mà "viết" phải chăng chính là biểu tượng rõ ràng nhất của việc ghi lại, tức của dấu vết. Rồi, khi khái niệm "viết" không còn thích hợp nữa, thì nó chuyển thành "siêu viết", tức "siêu văn tự" (2). 

Siêu Việt và Khác Biệt 

Với khái niệm "siêu văn tự", Derrida đưa vào mọi phát biểu của tâm trí con người một phạm trù siêu việt. Tuy nhiên, sự siêu việt ấy rất khác khái niệm siêu việt trong thần học hay bản thể học. Thật vậy, mỗi cá nhân có sự siêu việt đặc thù của nó. Không có chuyện gộp chung tất cả trong cùng một nguồn gốc, một bản thể duy nhất. Khẳng định một nguồn gốc luôn là một sự dối trá. Đi tìm nguồn gốc, tìm những gì "cho ra" những phát biểu mà chúng ta đang quan tâm, là một con đường vô tận. Các dấu vết luôn vuột khỏi sự khám phá của chúng ta (3). Sự trốn chạy ấy, đưa đến quan điểm Khác Biệt (difference), và "hướng đến khác biệt" (differance). 

Nếu lời nói được xây dựng trên sự hiện diện gần như cùng lúc, trong hiện tại, của những âm thanh, để tạo thành một ý nghĩa đồng nhất được quy định sẵn, thì chính sự chồng chất lên nhau trong thời gian của dấu vết, mới tạo ra được một ý nghĩa. Vì, như vừa nói, dấu vết luôn vuột khỏi tầm nhìn của chúng ta, nên ý nghĩa ấy luôn thay đổi, biến hóa, tức luôn khác biệt. Có thể hiểu là lời nói xóa nhòa khác biệt, trong một hiện tại rõ rệt, với những quy luật chính xác của tiếng nói. Trong khi đó, các "dấu vết" mà Derrida quan niệm, đưa đến khác biệt, và sự vận động "hướng đến khác biệt" tiềm tàng trong "giải cấu". Một cách chính xác  hơn, điều này có thể được hình dung ở ba trình độ : 

- Sự đặc thù của "nguồn gốc" : vì câu hỏi "cái gì cho ra ?", sẽ luôn mãi được đặt ra, và không những không thể có cùng câu trả lời, mà cũng không bao giờ có câu trả lời rốt ráo. Câu hỏi dai dẳng, bất tận ấy, chính là vận dộng "hướng đến khác biệt". 

- Sư phức biến của hiện tại : vì chúng ta phải chịu đựng một hiện tại, và nhìn một hiện tại khác được ước vọng, mong đợi, như cái hiện tại "phải là". Derrida sử dụng một phát biểu của Hamlet : "Time is out of joint" (thời gian đã ra khỏi lề lối của nó) (4) để diễn tả điều này. Hamlet sống trong một hiện tại mà anh muốn phủ nhận, cũng như mỗi người chúng ta, trong những bối cảnh, vấn nạn, và trách nhiệm khác biệt (5). 

- Đi tìm Dấu Vết và "hướng đến khác biệt", không chỉ vận hành trong lịch sử, mà cả bên ngoài lịch sử, nơi mà hiện hữu không còn ý nghĩa, hay nói cách khác, là "ý nghĩa của hiện hữu không phải là một "cái được biểu đạt" (signified) siêu việt (6) (...), mà là dấu vết chính xác của một "cái được biểu đạt" ..." Một dấu vết trong nhiều dấu vết ... Hệ quả đương nhiên là sự khác biệt giữa chúng (7). 

Kết : 

Tác phẩm "de la Grammatologie" đặt nền tảng cho một suy nghĩ hoàn toàn mới mẻ, với chữ viết được đặt vào trung tâm của tư duy, đưa quan niệm của con người về sự vật  và ngôn ngữ đến một chân trời chưa từng được khám phá, trong đó sự Khác Biệt là ánh sáng chiếu soi tất cả. 

Việc tìm đến một nguồn gốc không hiện hữu, thậm chí đến dấu vết bên ngoài hiện hữu, cùng với những đóng góp của Phân Tâm Học, không chỉ bắt buộc đánh giá lại triết học, đặc biệt là siêu hình học, mà còn đem lại một cái nhìn mới đến toàn bộ văn học, nghệ thuật. 

Nguyễn Hoài Vân
9 tháng 4 năm 2017 

Chú thích : 

(1) Có chút khó khăn khi nghĩ đến các chữ viết không lệ thuộc ngữ âm, như chữ Trung Hoa, dù cũng có những yếu tố "hài âm" trong đó. Khó khăn khác là ngôn ngữ toán. Thí dụ không thể hình dung phương trình Schrodinger hay Hàm Số  Zeta của Riemann như được tạo ra sau lời nói, và khó mà hình dung được một diễn văn, chỉ dùng lời nói, mà diễn tả được thật đầy đủ, gọn gàng, các phương trình này. Có thể khẳng định : toán học không thể hiện hữu nếu không có chữ viết. 

(2) "Siêu văn tự" có thể được thấy trong một số tác phẩm hội họa, thí dụ các bức tranh của Cezanne hay Van Gogh. Các vết màu, cái này chồng lên cái kia, như thể chúng bị xóa đi trước khi hiện hữu. Người ta tìm thấy những dấu vết của cùng một màu sắc ở những vùng rất xa nhau, không liên hệ gì với nhau trên phương diện cấu hình. Bức tranh mà chúng ta nhìn thấy, là sự tổng hợp của những dấu vết ấy, của những vết màu đã biến mất dưới những vết màu khác, hay mơ hồ ẩn hiện quanh một nét vẽ, hay, như đã nói, được nhận ra ở một vùng xa xôi trên bức tranh ... 

(3) Derrida nói đến "siêu dấu vết" (archi trace) như nguồn gốc của dấu vết, một nguồn gốc đã bị xóa nhòa trước khi nó hiện hữu, vì nó nằm ở chỗ của một nguồn gốc luôn bị phủ định, cũng như ảo tưởng về nguồn gốc của nguồn gốc. 
 
(4) Hamlet- Shakespeare - Act 1, scene 5 - Derrida, trong "De quoi demain ..." 

(5) Trong Spectres de Marx, Derrida nhắc lại một đoạn văn của triết gia Hy Lạp Anaximandre (khoảng 650-600 trước CN), từng được Heidegger bình luận  : "Sự vật quay về điểm khởi đầu của chúng, một cách tự nhiên, vì phải tái lập lại với nhau một tư thế đúng đắn, mà chúng đã để mất đi với thời gian". Khi nối liền câu này với phát biểu của Hamlet được dẫn ở trên, thì có thể nói là hiện hữu cần được tái lập lại trong cái thời gian đúng đắn của nó, như thể có một trạng thái "đúng đắn" nào đó, chủ trì những chu kỳ biến hóa. Nhận xét này cho thấy hiện hữu như thường xuyên "ở ngoài" chính nó ! 

(6) Âm thanh của lời nói là "cái biểu đạt" (signifier), cái hiện ra trong thế giới, một cách khách quan, đồng nhất. Sự cảm nhận âm thanh ấy trong tâm trí, tức ý nghĩa được gán cho nó, là "cái được biểu đạt" (signified). Từ "cái được biểu đạt" này, nảy sinh ra khả năng của Khác Biệt.  Khả năng ấy tương đối hạn chế trong sự  "tuyên bố", và trở thành vô tận trong việc "giải thích", với vận động "hướng đến khác biệt" (differance). 
 
(7) Khi bàn đến "ngoài hiện hữu" và "phức biến của hiện tại", các bạn có thể nghĩ đến những chuyện đơn giản như xem một cuộn phim, thí dụ Star Wars. Hiện tại giả định của phim ("một quá khứ xa xôi" - A long time ago ...), hiện tại của lúc bạn xem phim, hiện tại của lúc hàng triệu người khác xem phim (trải suốt nhiều chục năm), hiện tại mà bạn đặt trong tương lai, khi các kỹ thuật tân tiến trong phim sẽ thực sự hiện hữu : kiếm laser, phi thuyền di chuyển trong hyper space ... (mặc dù người làm phim cho biết nó đã xảy ra trong quá khứ !) ... cho thấy một sự phức biến hiển nhiên của hiện tại. Bên cạnh đó, những nhân vật, sự vật và những gì xảy ra trong phim, thì rõ ràng là nằm ngoài hiện hữu, đồng thời vẫn hiện hữu, với những ý nghĩa rõ ràng.


Previous
Next Post »