Chúng ta từ nhỏ đã thấy Ông Bà, Cha Mẹ thành tâm thắp nén hương lên bàn thờ gia tiên, đền, chùa, miếu … nhưng cũng chưa hiểu thấu đáo ý nghĩa của việc làm đó là gì, mà chỉ tâm niêm đó là linh thiêng, việc thắp nén hương mang nhiều ý nghĩa tâm linh, nó là nhịp nối chúng ta với Trời Đất.





Trong văn hóa tâm linh đất Việt, nhang, hương luôn được chú trọng đầu tiên trong các nghi lễ cầu cúng theo phong tục truyền thống dân tộc. Nhang, hương từ xưa đã đi vào đời sống cộng đồng, với ý nghĩa là vật phẩm tưởng nhớ công đức và cảm tạ sự phù hộ độ trì của tổ tiên, thần linh, Trời Phật đối với con cháu, người thân trong mỗi gia đình, làng nước. Đây vừa là sản phẩm tinh thần vừa là sản phẩm vật chất đem tới cho cuộc sống thêm niềm vui, hạnh phúc. 


Đối với mỗi loại nhang, hương đều có ý nghĩa sâu sắc. Cốt hay que hương bằng cật tre hoặc keo dính là biểu tượng của niềm tin bền vững. Màu vàng và đỏ của hương tượng trưng cho chiến thắng vinh quang và sự ngộ đạo, ngoài ra còn có nghĩa là ánh sáng và năng lượng tạo nên cảnh quan kỳ diệu.
Mùi thơm của hương chiết xuất từ nhựa cây (Mộc – Mùa xuân) cũng đem tới sự sinh sôi, phát triển. Hình dáng cây hương còn như một nhịp cầu nối kết giữa trần gian và tiên giới, người sống và người đã khuất. Hương nén và hương sào ở thế đứng được xem là nấc thang nhanh nhất thẳng tiến từ đất lên trời. Hương vòng với các khúc cong uyển chuyển nằm ngang đính các sợi dây điều mỏng lại giống các tầng bậc lên thiên đường. Với ý nghĩa, cả ba cõi trời, đất, người được nối liền bằng chiều dài của que hương.

Theo tín ngưỡng dân gian, muốn mời gọi anh linh về thụ lễ, con cháu trước tiên phải thành tâm thắp nén hương để giao tế và chuyển tải lời cầu khẩn lên tiên tổ. Nhang, hương do vậy là một phần không thể thiếu của đồ lễ cúng bái, đối với Trời Phật, thiên thần, địa thần gồm hương, hoa, đèn, trà, oản, quả, thực (cơm) và với nhân thần, gia tiên có thêm rượu, thịt. 

Để phát huy trọn vẹn uy lực của cây hương, ng ày xưa người dân thường đốt nhang bằng ngọn lửa đèn dầu thắp từ tinh chất vừng, lạc, đậu được tin là suối nguồn nuôi dưỡng ánh sáng và hơi ấm. Hoặc châm hương bằng diêm, đá lửa ví đó như lôi điện từ trên trời ban xuống.

Với đạo lý uống nước nhớ nguồn, người Việt rất coi trọng việc thắp hương thờ cúng. Thắp hương trên ban thờ là để con cái chiêm vọng cha mẹ, cháu chắt cúng bái ông bà, tổ tiên, cảm ơn anh linh đã phù hộ gia quyến được bình an, may mắn và phát đạt, cũng như để người dân cảm tạ các vị anh hùng, thiên thần, nhân thần đã có công xây dựng và bảo vệ xóm làng. Thắp hương đã trở thành nghĩa cử, tục lệ cao đẹp của người Việt. Đi qua chùa, đình, miếu, nhiều người đều dừng lại thắp hương. Vào tiết thanh minh, mỗi gia đình đều thắp hương mộ chủ và những mộ của xóm giềng xung quanh để thêm sự ấm áp, thơm tho, an lành sẽ đến với muôn nhà. Vào ngày xá tội vong nhân, mọi nơi cùng làm lễ, dâng hương cầu siêu cho những linh hồn lang thang. Mỗi người thắp một nén hương khói thơm nghi ngút, cảm thấy ấm áp lạ kỳ, tâm hồn sáng tươi và hướng thiện.

Với nhiều người, nhang khói đã trở thành thứ ảm ánh, níu bám trong cuộc sống. Không ngày nào không thắp hương, không giờ nào không tụng niệm. Mỗi khi làm việc gì, đều thắp hương, làm lễ cầu mong thần linh độ trì. Người giàu có mâm cao cỗ đầy, người nghèo không có của cải đáng giá cũng đều thành tâm thắp mấy nén hương. 

Riêng khi lễ Phật, các cụ già luôn bưng một mâm lễ gồm hương, vàng, oản, quả là những thứ tạo nên mùi thơm tinh khiết, đặt trang trọng trên thượng điện và thắp ba nén hương. Nén thứ nhất cắm ở giữa cúng Phật, nén thứ hai cắm bên phải cúng Pháp và nén thứ ba cắm bên trái cúng Tăng. Ngoài hương trầm thì mỗi người cũng dâng lên Trời đất tấm lòng thơm thảo của mình.

Từ xưa đã có thói quen khi thắp 1, 3, 5, 7 hoặc 9 hay số lẻ các nén hương. Thường nhất là ba nén, một nén cắm chính giữa đứng thẳng, hai nén còn lại nghiêng hai bên. Theo thuyết luận đạo Lão là để cúng tam tinh (Phúc, Lộc, Thọ) và triết lý nhà Phật là để cúng tam bảo (Phật, Pháp, Tăng), tam giới (dục, sắc, vô sắc giới), tam thời (khứ, vị, lai), tam vô lậu (giới, định, tuệ). Cũng có nơi thắp 5 cây hương sắp hai hàng, hàng trong ba cây lập án tam tài tương ứng với thiên, địa, nhân (trời, đất, người) đứng hàng ngang cai quản thế giới. Hàng ngoài hai cây tạo thế che đỡ cùng với ba cây kia tạo dựng ngũ khí, tức là năm nguyên tố cấu tạo vũ trụ: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Ngoài hương con, nhiều người còn đốt hương to, hương vòng và tùy hình dạng bó hương đang cháy mà gửi tâm niệm như hương đốt chụm - muốn nói toàn thể gia quyến, đệ tử đồng tâm chiêm bái, nguyện cầu chư thần, chư Phật; hương tõe đi nhiều hướng hay nằm rải trên mặt phẳng là phát nguyện, đồng tâm dõi chín phương tám hướng thông suốt mọi tầng đất, tầng trời… 

Tùy nơi, gia chủ sẽ trưng một hay ba bát hương sắp theo nguyên lý âm dương ngũ hành. Thông thường chính giữa ban thờ sẽ đặt một bát hương lớn th ờ các Quan Thần linh cai quản khu vực đất đó. Bên phải bát hương thờ gia tiên tiền tổ và bên trái bát hương thờ bà cô, ông mãnh tạo thế tam tài, và ở hai góc ngoài cùng có hai cây đèn dầu và đế cắm nến - hiện sinh của mặt trời và mặt trăng. Vì bát hương là nơi “tiệc tùng”, nghỉ ngơi của anh linh, việc thay đổi bát hương có thể tác động lớn tới vận mạng gia chủ, nên nếu phải thay bát hương mới phải thực hiện rất khe khắt, cẩn trọng. 

Người Việt đặc biệt xem trọng nghi lễ, cung cách thắp hương. Đứng trước ban thờ, người cúng phải cúi thấp trọng tâm, mắt nhìn xuống; khi mới thắp hương thì chắp tay trước ngực, hết hương thì vái và dâng hương thì quỳ lạy. Khi thắp hương, mọi người tuyệt đối không cười đùa, chòng ghẹo vì e ngại các vị thần sẽ giận dữ mà trừng phạt hoặc bỏ đi không tiếp lễ.

Mọi người tin rằng với lòng thành sẽ cảm động được thần thánh, vong linh nên mặc dù do độ ẩm, độ khô, độ ngậm lửa hay châm lửa quá to tự nhiên làm que hương nghiêng ngả, gãy khúc hoặc cháy bùng… đó là điềm báo thần linh đã chứng nhận cho mình. Cũng với niềm tin khi hương cháy là lúc tổ tiên đang hưởng lễ, con cháu phải chờ hết hương mới lễ tạ và hóa vàng. Nhìn nén hương đỏ lửa, ai nấy đều hồi hộp, khi hết hương gia chủ vui vẻ cúi xin tổ tiên phát lộc rồi mới nhẹ nhàng bưng đồ lễ xuống để cả nhà chung vui.

Hương khói đã là một phần không gian của các gia đình người Việt. Khói hương cùng khói xanh, khói đỏ, khói trắng do ánh đèn tạo nên một khung cảnh mơ hồ, linh thiêng. Những làn khói thanh cao, mỏng manh nghi ngút, mỗi lúc vươn cao như trí tuệ cao dày, công đức bao trùm. Từ xa, hương thơm tỏa khắp các gian nhà, ùa ra vườn, đường ngõ, đường làng, ao hồ và bất cứ một mùi thơm nào khác cũng không át nổi. 

Trong ngày lễ hay thường nhật, khói hương bảng lảng từ những nén nhang luôn làm cho mỗi người cảm giác phiêu bồng, nhẹ nhõm. Mùa hè đứng trong làn khói hương thơm tho ấy thấy tĩnh tại, mát dịu; mùa đông lại phấn chấn, ấm áp, lắm người thiếp đi không biết hoặc bỗng nhiên quên hết những ưu phiền, tai mắt như được nghe được thấy và chuyện trò với người thân đã khuất như thể họ hãy còn sống, được ôm ấp trong vòng tay của nhiều thế hệ ông bà cha mẹ, cô bác chú gì... 



Trích lục từ Lịch sử Hương Tâm Linh